Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể mãi dựa vào vốn ngân hàng
Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong những năm tới, kéo theo nhu cầu vốn đầu tư lên tới hàng chục triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, khi tín dụng đã tương đương khoảng 146% GDP và nhu cầu vốn trung, dài hạn ngày càng lớn, các chuyên gia cảnh báo việc phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống ngân hàng sẽ khiến nền kinh tế đối mặt với nhiều rủi ro.
Phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.
Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cảnh báo hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng.
Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.

Hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Ảnh: DNSE
Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.
"Cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng", bà Hà Thu Giang nhấn mạnh.
Trong khi đó, ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam nhận định: Một nền kinh tế hướng tới tăng trưởng hai con số nhưng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro.
Theo ông, ở nhiều nền kinh tế, tín dụng ngân hàng chỉ chiếm khoảng 25–30% cơ cấu vốn, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 15%, phần còn lại được cung ứng qua thị trường vốn, gồm cổ phiếu và trái phiếu. Đây là cấu trúc bền vững mà Việt Nam cần hướng tới trong giai đoạn đến năm 2030.
Tuy nhiên, hiện quy mô tín dụng tương đương khoảng 146% GDP, trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP. Đây là cấu trúc vốn chưa cân bằng so với thông lệ quốc tế.
Gốc rễ của vấn đề là hệ thống ngân hàng khó huy động được lượng lớn vốn dài hạn. Phần lớn nguồn vốn đầu vào có kỳ hạn ngắn nhưng lại được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, tạo ra tình trạng sai lệch kép về kỳ hạn và dòng tiền, làm gia tăng rủi ro cho hệ thống.
“Tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức 146% không hẳn quá cao nếu so với một số quốc gia trong khu vực, nơi con số này có thể đạt 170–190%. Tuy nhiên, tại các nền kinh tế đó, quy mô thị trường chứng khoán cũng tương xứng hoặc lớn hơn tín dụng”, ông nói.
Trong khi đó, tại Việt Nam, tín dụng đã tương đương 146% GDP nhưng vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP. Vấn đề cốt lõi vì vậy không phải tín dụng quá lớn, mà là thị trường vốn còn quá nhỏ.
Đến năm 2030, Việt Nam có thể cần khoảng 1.500 tỷ USD vốn đầu tư, tương đương hơn ba lần GDP và khoảng 3,7 lần quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu này, cần đồng thời huy động nguồn lực trong nước và quốc tế.
Đối với vốn nước ngoài, Việt Nam phải tiếp tục tháo gỡ các rào cản tiếp cận thị trường, thực hiện đầy đủ các yêu cầu để nâng hạng theo chuẩn FTSE Russell từ tháng 9/2026, đồng thời hướng tới các tiêu chuẩn cao hơn của MSCI trong giai đoạn 2029–2030.
“Muốn vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế cấp phép, kết nối xử lý lệnh tự động, mô hình đối tác bù trừ trung tâm và các hạ tầng giao dịch, thanh toán theo chuẩn quốc tế”, ông Sơn nhấn mạnh.
Thị trường vốn chưa phản ánh tương xứng
Một nghịch lý cần được quan tâm là kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao trong nửa đầu năm, nhưng diễn biến của thị trường vốn chưa phản ánh tương xứng.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam. Ảnh: Tạp chí Nhà Đầu tư
Theo ông Nguyễn Sơn, một số ngành cơ bản, có vai trò cốt lõi với nền kinh tế, vẫn chịu áp lực giảm giá. Đây là vấn đề cần xử lý để khơi thông nguồn vốn cho nửa cuối năm và những năm tiếp theo.
Về phía cung, cần đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ; tạo điều kiện cho các tập đoàn tư nhân thực hiện IPO; cho phép doanh nghiệp FDI phát hành cổ phiếu lần đầu gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Thị trường cũng cần phát triển thêm những sản phẩm mới như sàn giao dịch dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, trái phiếu cho các dự án đối tác công tư, trái phiếu xanh và những sản phẩm gắn với tiêu chuẩn ESG.
Đối với bất động sản, đây vẫn là lĩnh vực có đóng góp lớn cho tăng trưởng, đồng thời chiếm khoảng 23–25% tổng dư nợ tín dụng ngân hàng.
“Vì vậy, nhu cầu vốn của lĩnh vực này cần được xử lý bằng các công cụ phù hợp, tránh để rủi ro tích tụ trong hệ thống ngân hàng”, ông Sơn nêu.
Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng, ông cho rằng Việt Nam cần nghiên cứu phát triển các sản phẩm chứng khoán hóa khoản vay bất động sản, qua đó chuyển một phần nhu cầu vốn dài hạn sang thị trường vốn và phân tán rủi ro tốt hơn.
Ở phía cầu, Việt Nam hiện có khoảng 13,5 triệu tài khoản chứng khoán nhưng hơn 98% thuộc về nhà đầu tư cá nhân. Tỷ trọng này khiến thị trường dễ chịu tác động bởi tâm lý đám đông và biến động mạnh.
“Vì vậy, cần phát triển mạnh các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và những định chế đầu tư dài hạn. Khi tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức tăng lên, thị trường sẽ ổn định hơn, khả năng hấp thụ các đợt phát hành lớn cũng được cải thiện”, ông nói.







