• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Make in Vietnam nâng tầm giá trị Việt Nam

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh năm 2026 mở đầu giai đoạn phát triển mới, gắn với Nghị quyết Đại hội XIV và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030, có ý nghĩa then chốt trong việc định hình mô hình phát triển và quỹ đạo tăng trưởng dài hạn của đất nước. Tổng Bí thư yêu cầu chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo, trong đó cần nội hàm hóa chiến lược “Make in Vietnam”.

Make in Vietnam nâng tầm giá trị Việt Nam

Việt Nam quyết tâm chuyển dịch từ gia công sang làm chủ thiết kế, công nghệ; đầu tư mạnh cho công nghệ số, AI, bán dẫn. Ảnh: Hải Nguyễn

Nội hàm hóa “Make in Vietnam” - một yêu cầu cấp bách

Công ty Cổ phần Thương mại, Tư vấn và Xây dựng Vĩnh Hưng là một doanh nghiệp khá nổi trong ngành cơ khí giao thông. Doanh nghiệp này đang đặt nhiều kỳ vọng sẽ được tham gia một số dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội, TPHCM và đặc biệt là dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam. Để đón đầu, những năm qua, Vĩnh Hưng đã tập trung đầu tư cho công tác nghiên cứu phát triển theo hướng nội địa hóa.

Trao đổi với Lao Động, Tổng Giám đốc Vĩnh Hưng - ông Võ Tá Lương - cho rằng: “Đối với những sản phẩm công nghệ cao mà Việt Nam chưa sản xuất được cho ngành đường sắt, Vĩnh Hưng đã và đang đàm phán với các tập đoàn hàng đầu thế giới để nhận chuyển giao công nghệ, hướng tới nội địa hóa sản xuất trong nước”.

Vĩnh Hưng là một ví dụ khá điển hình cho việc coi “Make in Vietnam” như một lựa chọn chiến lược cho con đường phát triển dài hạn ở quy mô doanh nghiệp. Thế nhưng vấn đề băn khoăn của nhiều doanh nghiệp hiện nay là làm thế nào để làm rõ nội hàm “make in Vietnam” với những câu hỏi như: Make in Vietnam khác về thực chất với Made in Vietnam - vốn chủ yếu phản ánh địa điểm sản xuất - như thế nào? Tỉ lệ bao nhiêu là “làm chủ công nghệ” hay tiêu chí nào để phân biệt giữa doanh nghiệp thực sự tạo ra giá trị với những hoạt động chỉ mang tính chất thay đổi nhãn mác.

“Make in Vietnam” hiểu một cách cơ bản là thiết kế tại Việt Nam, sáng tạo tại Việt Nam và làm ra tại Việt Nam. Trọng tâm không nằm ở khâu lắp ráp cuối cùng, mà ở việc doanh nghiệp Việt Nam làm chủ thiết kế, công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường, từng bước nắm giữ các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế - cho rằng: “Make in Vietnam” là sự chuyển dịch từ vai trò “người làm thuê” sang “người làm chủ”; từ chỗ phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu sang chủ động sáng tạo; từ tăng trưởng dựa trên số lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, tri thức và thương hiệu. Đây không phải con đường dễ đi, nhưng là con đường tất yếu nếu Việt Nam muốn bứt lên nhóm quốc gia có thu nhập cao và vị thế vững chắc trong nền kinh tế toàn cầu.

“Make in Vietnam” vì thế không chỉ là câu chuyện của ngành công nghệ, mà là bài toán tái cấu trúc toàn bộ nền sản xuất. Doanh nghiệp Việt Nam phải được khuyến khích đầu tư cho đầu tư phát triển (R&D), tham gia sâu hơn vào thiết kế sản phẩm, phát triển công nghệ lõi, sở hữu trí tuệ và xây dựng thương hiệu riêng. Chỉ khi đó, giá trị gia tăng mới thực sự ở lại trong nước.

Đồ họa: Bình An

Đồ họa: Bình An

Make in Vietnam - từ khẩu hiệu đến thương hiệu quốc gia

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam xác định rõ những lĩnh vực then chốt để tạo đột phá. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây và đặc biệt là bán dẫn đang trở thành các “mặt trận chiến lược”.

Thay vì đứng ngoài, Việt Nam chủ động xây dựng các chương trình, chiến lược quốc gia về AI, bán dẫn và chuyển đổi số. Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu mở ngành đào tạo mới; doanh nghiệp đầu tư phòng thí nghiệm, trung tâm R&D; đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ ngày càng trưởng thành. Quan trọng hơn, yêu cầu với các sản phẩm Make in Vietnam không chỉ để “trình diễn”, mà gắn với những bài toán rất thật của đất nước: chính phủ số, đô thị thông minh, y tế số, giáo dục số, nông nghiệp thông minh, an ninh - an toàn số.

Phát biểu tại Diễn đàn Quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cuối năm 2025, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: Sau 6 năm triển khai, Make in Vietnam không còn là khẩu hiệu, mà đã dần trở thành một phong trào và năng lực thực tế.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, Make in Vietnam đã và sẽ tiếp tục giúp Việt Nam chuyển từ vị thế “người sử dụng công nghệ” sang “người tạo ra công nghệ” ở nhiều lĩnh vực; từ nhập khẩu giải pháp sang tự thiết kế giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng cho hay, giai đoạn mới của Make in Vietnam đòi hỏi tư duy khác, cách làm khác và thể chế khác. Trọng tâm không còn là những sản phẩm rời rạc, mà là các nền tảng cốt lõi: Nền tảng số, nền tảng dữ liệu, nền tảng AI, nền tảng điện toán đám mây, nền tảng bán dẫn.

Doanh nghiệp là trung tâm của quá trình này, còn Nhà nước đóng vai trò kiến tạo: Tạo thị trường, tạo luật chơi, tạo niềm tin thông qua chính sách đặt hàng, mua sắm công, sandbox, tiêu chuẩn và dữ liệu mở. Nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định, từ kỹ sư thiết kế hệ thống đến chuyên gia dữ liệu, chuyên gia tiêu chuẩn và chính sách công nghệ.

Điểm đến cuối cùng của Make in Vietnam không chỉ là con số tăng trưởng, mà là thương hiệu quốc gia. Khi sản phẩm Việt Nam được nhận diện bằng chất lượng, công nghệ và uy tín, giá trị gia tăng sẽ ở lại nhiều hơn trong nước, năng lực tự chủ được củng cố và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.

Những chương trình xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu quốc gia gắn với công nghệ, đổi mới sáng tạo đang cho thấy hướng đi đúng: Thay vì “ẩn mình” trong chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam từng bước xuất hiện với tư cách nhà cung cấp giải pháp, nhà sáng tạo công nghệ.

Make in Vietnam đang dần đi từ định hướng chính sách vào đời sống kinh tế - xã hội. Con đường này chắc chắn không bằng phẳng, đòi hỏi nguồn lực lớn, sự kiên trì và phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước - doanh nghiệp - xã hội. Nhưng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, đây là lựa chọn mang tính chiến lược.

Khi Việt Nam quyết tâm chuyển dịch từ gia công sang làm chủ thiết kế, công nghệ; đầu tư mạnh cho công nghệ số, AI, bán dẫn; xây dựng hệ sinh thái số và thương hiệu quốc gia, "Make in Vietnam" có thể trở thành một công cụ chính sách công nghiệp quan trọng, giúp điều phối nguồn lực, thúc đẩy nâng cấp năng lực doanh nghiệp và từng bước định vị Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

"Giai đoạn tới phải đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển, coi đây là điều kiện then chốt để vượt bẫy thu nhập trung bình và duy trì tăng trưởng cao, bền vững. Cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn; lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng mới và là nhân tố để làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống. Cơ chế khuyến khích ứng dụng công nghệ phải dựa vào kết quả, không hỗ trợ dàn đều. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, nội hàm hóa chiến lược “Make in Vietnam”, khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới như kinh tế biển, kinh tế đại dương xanh, kinh tế không gian (trên không và dưới lòng đất), kinh tế chia sẻ...".

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương ngày 9.1.


Nguồn:https://laodong.vn/kinh-doanh/make-in-vietnam-nang-tam-gia-tri-viet-nam-1639262.ldo Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết