• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thị trường liên ngân hàng “hạ nhiệt”, tỷ giá giảm

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng “hạ nhiệt” cho thấy áp lực thanh khoản trên thị trường tiền tệ đã giảm. Cùng chiều, tỷ giá cũng giảm đối với cả thị trường chính thức và tự do.

anh-ngan-hang-6-11.jpg

Ảnh minh họa

Lãi suất qua đêm còn 4,66%/năm

Tuần qua (từ ngày 5 đến 9-1), thị trường tiền tệ ghi nhận xu hướng hút ròng thanh khoản mạnh với 40.167,94 tỷ đồng trên thị trường mở. Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng cũng giảm về 4,66%/năm, do tỷ giá USD/VND không còn dấu hiệu căng thẳng.

Có 48.680 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5% và ở chiều ngược lại, có 88.848 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, giảm lượng vốn OMO (vốn trên thị trường mở) lưu hành xuống còn 344.947 tỷ đồng.

Ngày 7-1, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục xu hướng hạ nhiệt rõ rệt trên toàn bộ các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống ngân hàng được cải thiện so với những phiên đầu năm. Lãi suất qua đêm giảm mạnh xuống 4,66%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức 5,65%/năm của ngày 6-1 và 6,88% của ngày 5-1, doanh số cũng giảm sâu so với giai đoạn cao điểm cuối năm 2025, chỉ còn 752.237 tỷ đồng. Các kỳ hạn ngắn khác cũng đồng loạt điều chỉnh giảm, lãi suất liên ngân hàng 1 tuần ở mức 5,31%/năm với doanh số vay giảm còn 20.776 tỷ đồng; lãi suất liên ngân hàng 2 tuần giảm còn 5,72%/năm.

Các kỳ hạn khác giảm nhiệt, song vẫn ở mức cao, như kỳ hạn 1 tháng giảm về 6,3%/năm; kỳ hạn 3 tháng: 7,41%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đã hạ nhiệt.

Theo các chuyên gia, lãi suất liên ngân hàng có thể giảm biến động khi nhu cầu vốn mùa vụ hạ nhiệt. Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng chuyển sang điều tiết linh hoạt theo nhịp bơm/hút nhỏ giọt để tránh tạo kỳ vọng nới lỏng quá mức, qua đó ổn định mặt bằng lãi suất ngắn hạn. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã phát đi tín hiệu không mở rộng chính sách tiền tệ trong năm 2026, nên xu hướng bơm ròng mạnh mẽ qua kênh OMO trong năm 2025 sẽ sớm kết thúc.

Tỷ giá giảm

Đối với tỷ giá, diễn biến cho thấy xu hướng giảm nhẹ ở cả kênh chính thức lẫn thị trường tự do. Đóng cửa tuần, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.127 VND/USD. Tính chung tuần, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng so với cuối tuần trước.

Diễn biến tỷ giá tại các ngân hàng thương mại nhìn chung phân hóa theo từng đồng tiền, với xu hướng điều chỉnh giảm là chủ đạo ở nhóm ngoại tệ mạnh, trong khi USD giữ trạng thái tương đối ổn định. Cụ thể, tỷ giá USD tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): 26.053 VND/USD (mua vào) - 26.383 VND/USD (bán ra), tăng 6 đồng ở cả chiều mua và bán ra; Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV): 26.083 VND/USD (mua vào) - 26.383 VND/USD (bán ra), giảm 120 đồng với giá mua vào nhưng tăng 6 đồng bán ra.

Đối với tỷ giá EUR, Vietcombank niêm yết ở mức 29.828,99 - 31.401,63 VND/EUR, giảm lần lượt 216,2 đồng ở chiều mua và 251,7 đồng ở chiều bán ra. BIDV cũng điều chỉnh mạnh khi tỷ giá lùi về 30.153 - 31.418 VND/EUR, tương ứng giảm 319 đồng ở chiều mua và 177 đồng ở chiều bán, phản ánh sự suy yếu của đồng euro trong tuần.

Với tỷ giá GBP, Vietcombank niêm yết ở mức 34.380 - 35.839 VND/GBP, giảm nhẹ 15 đồng ở chiều mua và 43 đồng ở chiều bán ra; BIDV: 34.826 - 35.858 VND/GBP, giá mua giảm mạnh 133 đồng nhưng giá bán ra tăng 38 đồng.

Với tỷ giá JPY, biến động rất hẹp, trong đó, Vietcombank: 161 - 171 VND/JPY, giảm 0,4 đồng ở chiều mua và 0,6 đồng ở chiều bán; tỷ giá CNY, Vietcombank niêm yết: 3.666 - 3.821 VND/CNY, tăng nhẹ 3 đồng ở chiều mua và 0,4 đồng ở chiều bán.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số Dollar Index (DXY) trải qua 1 tuần tăng nhiệt, hiện ở mức 99,03 điểm, sau khi sụt giảm 9,4% trong năm 2025, mức giảm lớn thứ hai trong hai thập kỷ.

Dựa trên dữ liệu lịch sử, trong 80% trường hợp tương tự, USD thường giảm thêm trung bình 8% vào năm kế tiếp. Với kịch bản "hạ cánh mềm" giống năm 1995, chỉ số DXY có thể lùi về mốc 95 điểm. Áp lực này càng gia tăng khi dòng vốn có xu hướng dịch chuyển sang các thị trường chứng khoán quốc tế ngoài Mỹ.

Đánh giá về chuyển động chính sách tiền tệ tại các ngân hàng trung ương lớn, nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng JPY tiếp tục suy yếu khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) chưa phát tín hiệu rõ ràng về đợt nâng lãi tiếp theo, dù vừa tăng lãi suất trong tháng 12-2025, trong khi chênh lệch lợi suất với trái phiếu Mỹ vẫn duy trì ở mức cao.

Trong khi đó, EUR ít biến động khi thị trường chờ thêm tín hiệu chính sách mới từ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) trong kỳ họp đầu năm 2026. Đồng bảng Anh GBP đi ngang khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) vẫn giữ lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát có dấu hiệu hạ nhiệt.

Dự báo, sang năm 2026, áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu nhưng sẽ giảm so với năm 2025, theo đó, VND có thể mất giá khoảng 2,4% so với USD trong cả năm.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết