Cần khai thông thị trường vật liệu tái chế
Việc tái chế chất thải xây dựng không chỉ góp phần giảm áp lực môi trường mà còn mở ra cơ hội hình thành nguồn nguyên liệu thứ cấp phục vụ trở lại cho...

Phun nước khử bụi ngay trong quá trình nghiền phế thải tại công trường. Ảnh: Lan Anh
Gỡ nút thắt cơ chế, chính sách
Từ thực tiễn triển khai các mô hình xử lý chất thải xây dựng tại Hà Nội, nhiều ý kiến cho rằng việc nghiền, tái chế ngay tại công trường là hướng đi phù hợp trong bối cảnh lượng chất thải xây dựng phát sinh ngày càng lớn.
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) cho biết, công nghệ xử lý tại chỗ có nhiều ưu điểm như giảm chi phí vận chuyển, giảm phát thải carbon, tận dụng ngay vật liệu đầu ra phục vụ công trình. Với tính cơ động cao, các dây chuyền xử lý có thể được bố trí linh hoạt theo quy mô từng dự án, đặc biệt phù hợp với các công trình giao thông, khu đô thị mới hoặc các dự án có khối lượng lớn bê tông, gạch đá phát sinh từ hoạt động phá dỡ, giải phóng mặt bằng.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, công nghệ mới chỉ là một phần của bài toán. Để hoạt động tái chế phát triển bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách.
TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, lĩnh vực tái chế chất thải xây dựng hiện vẫn đối mặt với không ít rào cản. Trong đó, khung pháp lý chưa thực sự đồng bộ là một trong những khó khăn lớn nhất.
Hiện nay, công tác quản lý chất thải xây dựng được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, trong khi trách nhiệm quản lý chủ yếu giao cho chính quyền địa phương. Điều này giúp tăng tính chủ động nhưng cũng dẫn tới sự thiếu thống nhất trong quá trình triển khai.
Một vấn đề khác là Việt Nam vẫn chưa có quy định bắt buộc về tỷ lệ tái chế chất thải xây dựng. Bên cạnh đó, hệ thống định mức, đơn giá và các quy chuẩn đối với vật liệu tái chế vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Điều này khiến nhiều đơn vị tư vấn, thiết kế gặp khó khăn khi muốn đưa vật liệu tái chế vào hồ sơ dự án hoặc dự toán xây dựng.
Theo TS Nguyễn Thế Thông, muốn phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực xây dựng cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, đồng thời xây dựng các cơ chế đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực tái chế.
Đầu ra thị trường quyết định thành công
Theo TS Nguyễn Thế Thông, hiện nay nhiều chính sách đang tập trung hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ, dây chuyền xử lý hoặc nghiên cứu sản phẩm mới. Tuy nhiên, nếu vật liệu tái chế không có thị trường tiêu thụ ổn định thì hoạt động tái chế khó phát triển ở quy mô lớn.

Hiện nay, nhiều chính sách đang tập trung hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ, dây chuyền xử lý hoặc nghiên cứu sản phẩm mới. Ảnh: Hanoimoi.
Thực tế cho thấy, công nghệ tái chế đã từng bước được làm chủ, năng lực xử lý có thể tiếp tục mở rộng, song thị trường tiêu thụ vật liệu tái chế vẫn đang trong quá trình hình thành. Đây được xem là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay.
Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia, đầu tư công là công cụ hiệu quả để tạo đầu ra cho vật liệu tái chế. Tại Hàn Quốc, các dự án sử dụng vốn nhà nước được khuyến khích ưu tiên sử dụng vật liệu tái chế. Liên minh châu Âu cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ mô hình mua sắm công xanh nhằm tăng tỷ lệ sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường.
TS Nguyễn Thế Thông cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể tham khảo kinh nghiệm này. Với quy mô lớn và khả năng điều tiết trực tiếp, các dự án đầu tư công có thể trở thành động lực thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế phát triển.
Theo đó, trước mắt cần từng bước đưa vật liệu tái chế vào các công trình xây dựng công cộng, hạ tầng kỹ thuật, giao thông hoặc san lấp mặt bằng. Khi đầu ra được bảo đảm, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư thêm công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, từ đó hình thành chuỗi giá trị tuần hoàn hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cũng đề xuất tăng chi phí chôn lấp chất thải và siết chặt xử lý các hành vi đổ trộm phế thải theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Khi chi phí xử lý theo phương thức truyền thống tăng lên, hoạt động tái chế sẽ trở nên hấp dẫn hơn về mặt kinh tế.
Hướng tới chuỗi giá trị tuần hoàn khép kín
Theo đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, thành phố đang từng bước xây dựng mạng lưới xử lý chất thải xây dựng từ cấp xã đến cấp thành phố nhằm đáp ứng yêu cầu xử lý ngày càng lớn.
Ngoài các mô hình xử lý tại chỗ, nhiều địa phương đã đề xuất hình thành các điểm xử lý quy mô cấp xã, phường. Đồng thời, thành phố cũng đang kêu gọi đầu tư các dự án xử lý, tái chế chất thải xây dựng quy mô lớn tại Chương Dương, Đông Anh, Tiến Thắng và Tùng Thiện theo quy hoạch đã được phê duyệt.
Song song với việc đầu tư hạ tầng, Hà Nội đang nghiên cứu xây dựng các cơ chế khuyến khích sử dụng vật liệu tái chế trong hoạt động xây dựng, từng bước hình thành thị trường sản phẩm tái chế trên địa bàn.
Theo ông Nguyễn Văn Quý, từ nay đến năm 2030, thành phố tập trung vào bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm hoàn thiện cơ chế chính sách; đầu tư mở rộng mạng lưới thu gom, xử lý và tái chế; ứng dụng công nghệ số trong quản lý vòng đời chất thải; đồng thời thúc đẩy sử dụng vật liệu tái chế trong các công trình xây dựng.
Đáng chú ý, Hà Nội có lợi thế khi Luật Thủ đô đã trao cho thành phố nhiều cơ chế đặc thù để xây dựng các chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển. Đây được xem là nền tảng quan trọng để Thủ đô chủ động ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực tái chế chất thải xây dựng.
Các chuyên gia cho rằng mục tiêu cuối cùng không chỉ là xử lý chất thải mà là hình thành một chuỗi giá trị tuần hoàn khép kín, trong đó chất thải xây dựng được thu gom, phân loại, tái chế và quay trở lại phục vụ các công trình xây dựng.
Trong bối cảnh nhu cầu vật liệu ngày càng lớn, nguồn tài nguyên thiên nhiên dần suy giảm và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao, phát triển kinh tế tuần hoàn trong xây dựng không còn là lựa chọn mà đang trở thành yêu cầu tất yếu. Muốn hiện thực hóa mục tiêu đó, điều quan trọng nhất là tạo dựng được thị trường đủ lớn cho vật liệu tái chế. Khi đầu ra được khai thông, chất thải xây dựng sẽ thực sự trở thành nguồn tài nguyên mới, góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của Thủ đô.







