“Sản xuất an toàn chính là chìa khóa nâng tầm sản phẩm nông nghiệp”
Trên hành trình bước vào kỷ nguyên mới, nông nghiệp Thủ đô đang đứng trước yêu cầu chuyển mình mạnh mẽ, theo hướng khác biệt so với các địa phương thuần nông.
Phóng viên Báo Hànộimới đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ Trần Đình Long - Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam.
Từ kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và thực tiễn, ông đã gợi mở những định hướng phát triển nông nghiệp Hà Nội theo hướng sinh thái, xanh, giàu giá trị...

“Trụ đỡ” an sinh trong quá trình đô thị hóa
- Thưa Giáo sư, là người gắn bó lâu năm với Hà Nội, ông nhìn nhận vai trò của nông nghiệp Thủ đô hiện nay như thế nào?
- Hà Nội là nơi tôi sinh sống và công tác trong thời gian dài, từ giảng dạy đến nghiên cứu khoa học, nên tôi hiểu khá rõ những thế mạnh cũng như hạn chế của nông nghiệp Thủ đô.
Hiện nay, Hà Nội có gần 9 triệu dân, trong đó khoảng 51% sinh sống ở khu vực nông thôn. Vì vậy, nông nghiệp Thủ đô không chỉ đơn thuần là lĩnh vực sản xuất lương thực, thực phẩm mà còn giữ vai trò quan trọng đối với an sinh xã hội, góp phần ổn định đời sống người dân.
Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, nông nghiệp vẫn là “trụ đỡ” cần thiết, giúp cân bằng giữa phát triển đô thị và nông thôn, giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội. Tuy nhiên, Hà Nội không thể lựa chọn con đường phát triển nông nghiệp như các địa phương thuần nông khác.
- Theo ông, điểm khác biệt lớn nhất của nông nghiệp Hà Nội so với địa phương khác là gì?
- Khác biệt lớn nhất là quỹ đất nông nghiệp của Hà Nội không nhiều, trong khi quá trình đô thị hóa là xu thế tất yếu. Việc phát triển hạ tầng giao thông, khu đô thị và các công trình công cộng tiếp tục làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
Trong điều kiện đó, nếu Hà Nội vẫn chạy theo mô hình sản xuất hàng hóa với số lượng lớn thì rất khó, thậm chí không thể xây dựng được thương hiệu. Vì vậy, nông nghiệp Thủ đô buộc phải phát triển theo hướng đặc thù, tập trung vào các khâu có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường và gắn với nhu cầu lớn của đô thị. Đây không phải là thách thức, mà chính là cơ hội nếu biết khai thác đúng hướng.
- Theo Giáo sư, đâu là những lợi thế riêng để Hà Nội phát triển nông nghiệp theo hướng đặc thù đó?
- Hà Nội có hai lợi thế rất lớn. Thứ nhất là lợi thế về đa dạng sinh học, với nhiều giống cây trồng, vật nuôi bản địa quý hiếm. Riêng nhóm rau đã có tới 42 giống đặc sản như rau muống tiến vua Sen Chiểu, húng Láng, cải Đông Dư... Đối với cây ăn quả, Hà Nội cũng sở hữu những giống đặc hữu như bưởi Diễn, mơ Hương Tích, nhãn chín muộn...
Thứ hai là lợi thế về trí tuệ. Hà Nội là nơi hội tụ phần lớn các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm chuyển đổi số của cả nước. Nếu biết khai thác hiệu quả, Thủ đô không chỉ phát huy nguồn nhân lực tại chỗ mà còn có thể huy động được chất xám của Trung ương và các địa phương để phục vụ phát triển nông nghiệp.

Mô hình trồng rau ứng dụng công nghệ cao ở Chuyên Mỹ, Hà Nội.
Bứt phá bằng giống và công nghệ
- Hà Nội nên định hình con đường phát triển nông nghiệp theo hướng nào, thưa Giáo sư?
- Hà Nội cần kiên định phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ, nghĩa là vừa chú trọng sản xuất hàng hóa, vừa bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và an toàn thực phẩm. Khi đã xác định rõ hướng đi, việc tiếp theo là phải quy hoạch cụ thể: Vùng trồng lúa chất lượng cao, vùng cây ăn quả, vùng rau an toàn, vùng hoa, cây cảnh... Quy hoạch cần gắn chặt với điều kiện sinh thái và lợi thế của từng địa phương.
Theo tôi, Hà Nội nên định hướng phát triển theo hướng chuyên sản xuất giống, qua đó khẳng định vai trò là trung tâm sản xuất giống cây trồng, vật nuôi hàng đầu của cả nước. Sản xuất giống không chỉ đáp ứng nhu cầu của Thủ đô mà còn cung ứng cho các tỉnh, thành phố trên cả nước.
- Đối với việc tổ chức sản xuất, mô hình nào sẽ phù hợp nhất với Hà Nội, thưa Giáo sư?
- Hà Nội không nên chỉ chọn một mô hình duy nhất. Theo tôi, mô hình hiệu quả nhất là kết hợp giữa hộ nông dân, hợp tác xã, trang trại và doanh nghiệp theo chuỗi giá trị - từ sản xuất, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ. Một hộ nông dân không thể làm được tất cả, nhưng nhiều hộ liên kết lại, có doanh nghiệp dẫn dắt, có nhà máy chế biến, có thị trường ổn định thì giá trị sẽ tăng lên rất nhiều.
- Trong chuỗi giá trị đó, khâu nào giữ vai trò quyết định, thưa Giáo sư?
- Khâu quyết định chính là giống. Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản quyết định năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Ngày xưa các cụ nói “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, nhưng ngày nay tôi cho rằng giống phải là yếu tố đầu tiên. Ví dụ, dưa hấu không hạt và dưa hấu có hạt khác nhau “một trời một vực”; cây đu đủ có giống cho tới 60kg quả/cây, độ đường cao; hay như lúa, chúng ta có giống ST25 cho ra hạt gạo ngon nhất thế giới. Với những hạt gạo ngon, xuất khẩu sang châu Âu đã đạt giá 1.000 USD/tấn, trong khi giống thường chỉ đạt 350 - 400 USD/tấn.
- Nhưng chỉ có giống tốt liệu đã đủ để tạo ra giá trị cao chưa, thưa Giáo sư?
- Chưa đủ. Có giống tốt mà quy trình sản xuất không an toàn, không theo VietGAP, không giảm phát thải thì giá trị cũng không cao. Sản xuất an toàn chính là chìa khóa nâng tầm sản phẩm. Chúng ta đang hướng tới sản xuất nông nghiệp theo tín chỉ carbon. Trước đây, trồng lúa quanh năm phải cần nước nay chỉ cần nước trong vài giai đoạn khi lúa trổ bông hoặc chắc hạt, còn lại tháo khô chân ruộng để tiết kiệm nước. Bên cạnh đó, sử dụng phân hữu cơ trong canh tác, luân canh bằng các cây trồng khác nhau như 2 vụ lúa, 1 vụ đậu tương đông giúp cải tạo đất rất tốt.
Đậu tương là cây trồng rất giàu tiềm năng. Trước đây, có thời điểm diện tích đậu tương đông của Hà Nội đạt tới 30.000ha. Nếu chỉ bán hạt, giá trị chỉ khoảng 40 - 50 triệu đồng/ha, nhưng nếu gắn với chế biến, giá trị có thể tăng lên 400 triệu đồng/ha, thậm chí 1 - 2 tỷ đồng/ha chỉ trong vụ đông. Đặc biệt, sản phẩm từ đậu như sữa đậu nành, mầm đậu nành, dược phẩm tinh chế từ đậu nành rất tốt cho phụ nữ và phòng chống đột quỵ; bã đậu có thể làm thức ăn chăn nuôi; quá trình trồng giúp cải tạo đất... Đó là nông nghiệp tuần hoàn, bền vững. Nếu hướng tới thị trường Halal (sản phẩm được phép hoặc hợp pháp, theo Luật Hồi giáo), tiềm năng còn lớn hơn. Hiện nay, thị phần sữa đậu nành cho thị trường này chủ yếu do Trung Quốc cung cấp, Việt Nam mới chiếm khoảng 3%. Nếu nâng lên 25% thì đó sẽ là bước đột phá lớn.
- Để hiện thực hóa tiềm năng, Hà Nội cần làm gì, thưa Giáo sư?
- Theo tôi, cần có chính sách khung từ Trung ương và các chính sách cụ thể của thành phố, trong đó đặc biệt chú trọng hỗ trợ các khâu giống, sản xuất an toàn, chế biến và xây dựng thương hiệu. Hà Nội nên phát huy thế mạnh của các giống cây trồng, vật nuôi đặc sản gắn với Chương trình OCOP, nhất là các sản phẩm OCOP 5 sao phục vụ xuất khẩu. Sản xuất phải gắn với chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng.
Bên cạnh đó, Hà Nội cần đặc biệt quan tâm xây dựng thương hiệu nông sản riêng, từ lúa gạo đến các loại rau, quả đặc sản. Đồng thời, đẩy mạnh liên kết theo chuỗi giá trị, tập hợp hộ nông dân, hợp tác xã, trang trại và doanh nghiệp để tổ chức sản xuất quy mô lớn. Một cá nhân không thể làm được, phải có sự liên kết của nhiều chủ thể mới hình thành được vùng sản xuất, tạo thuận lợi cho thu gom, chế biến, tiêu thụ...
- Trân trọng cảm ơn Giáo sư!







