Du lịch Việt Nam tăng hạng toàn cầu, cần biến lợi thế thành giá trị
Đà tăng trưởng tích cực mở ra cơ hội cho du lịch Việt Nam, nhưng mục tiêu tăng mạnh lượng khách quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức.

Khách quốc tế du lịch Hà Nội. Ảnh: Minh Chính
Nhiều lợi thế nâng sức cạnh tranh
Theo Chỉ số Phát triển Du lịch và Lữ hành 2026 (TTDI) được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố, Việt Nam đạt 4,15/10 điểm, xếp thứ 52 trong 110 nền kinh tế, tăng 7 bậc so với năm 2024.
Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam kể từ sau đại dịch COVID-19. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng sau Singapore (hạng 13), Indonesia (hạng 23), Malaysia (hạng 26) và Thái Lan (hạng 38).
Đáng chú ý, điểm số của Việt Nam tăng 6,1 điểm phần trăm so với năm 2024, cao hơn mức tăng của Indonesia (2,2%), Singapore (3,3%), Malaysia và Thái Lan (cùng 5,8%).
TTDI đánh giá các yếu tố và chính sách tạo điều kiện cho sự phát triển du lịch bền vững, có khả năng chống chịu, trong đó có môi trường kinh doanh, an toàn và y tế, năng lực cạnh tranh về giá, hạ tầng hàng không, hạ tầng đường bộ và cảng, dịch vụ và hạ tầng du lịch, tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa.
Trong các nhóm tiêu chí, Việt Nam có kết quả tích cực về năng lực cạnh tranh về giá, an toàn và an ninh, hạ tầng hàng không, hạ tầng cảng biển, tài nguyên tự nhiên.
Theo đánh giá được dẫn lại từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, môi trường chính trị - xã hội ổn định cùng mức độ an toàn cao tiếp tục là những yếu tố hỗ trợ sức hút của Việt Nam đối với khách quốc tế.
Hạ tầng hàng không cũng ghi nhận những bước tiến đáng kể. Năm 2025, Nhà ga T3 sân bay Tân Sơn Nhất được đưa vào khai thác với tổng mức đầu tư khoảng 11.000 tỉ đồng, công suất thiết kế lên tới 20 triệu hành khách mỗi năm.
Trong khi đó, sân bay quốc tế Long Thành đang được hoàn thiện, dự kiến khai thác thương mại trong năm nay. Giai đoạn 1 có công suất 25 triệu hành khách mỗi năm và sẽ trở thành trung tâm hàng không lớn nhất Việt Nam khi đi vào hoạt động.

Người dân và khách du lịch di chuyển đông đúc tại sân bay Tân Sơn Nhất hồi tháng 2.2026. Ảnh: Anh Tú
Biến lợi thế thành trải nghiệm để giữ chân du khách
Bên cạnh những lợi thế về giá cả, an toàn và tài nguyên, du lịch Việt Nam vẫn còn những điểm nghẽn về hạ tầng, dịch vụ và mức độ đầu tư, ưu tiên cho ngành.
Ông Nguyễn Công Hoan - Tổng Giám đốc Flamingo Redtours cho rằng Việt Nam đang sở hữu nguồn tài nguyên lớn và sức hấp dẫn đối với khách quốc tế, nhưng vẫn chưa khai thác hết chiều sâu.
Theo ông, cùng với số lượng khách, thời gian lưu trú và mức chi tiêu là hai chỉ số cần được quan tâm. Lượng khách quốc tế và số đêm lưu trú đã tăng nhưng thời gian lưu trú trung bình vẫn còn ngắn, trong khi mức chi tiêu chưa thực sự cao.
“Điều đó cho thấy chúng ta đang khai thác tiềm năng du lịch ở mức tương đối sơ khai, chưa khai thác được chiều sâu. Chúng ta chưa biến các tiềm năng du lịch thành những sản phẩm để du khách có thể thực sự trải nghiệm, chứ không chỉ đến tham quan”, ông Hoan nhận định.
Theo ông, các điểm đến cần được đầu tư để tạo thêm trải nghiệm, hoạt động tương tác và dịch vụ. Khi du khách có thể dành nhiều thời gian hơn tại một điểm đến, khả năng chi tiêu cũng tăng lên.
“Nếu mỗi điểm đến được đầu tư tốt hơn, xây dựng kỹ hơn, có thêm những trải nghiệm và hoạt động tương tác với du khách thì thay vì chỉ tham quan 15 phút hoặc một tiếng, du khách có thể ở lại nửa ngày để tìm hiểu và sử dụng dịch vụ. Khi đó mới có thể kéo dài thời gian lưu trú”, ông phân tích.
Ông Hoan cho rằng thay vì chỉ đưa khách đến xem, các điểm du lịch cần tạo điều kiện để du khách trực tiếp tham gia, mua sắm và sử dụng dịch vụ.
“Du khách phải được cầm, nắm, trực tiếp tham gia vào các hoạt động, được mua sắm và sử dụng dịch vụ. Khi đó họ mới chi tiền cho những trải nghiệm đó”, ông nói.
Đây cũng là khoảng trống cần được giải quyết khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng mạnh lượng khách quốc tế trong những năm tới.
“Nếu đến năm 2030 chúng ta đón 40-50 triệu khách, tức lượng khách tăng gần gấp đôi, thì năng lực vận chuyển hàng không cũng phải tăng tương ứng. Hệ thống cơ sở dịch vụ, hạ tầng phục vụ du khách, khách sạn, nhà hàng... cũng phải tăng khả năng cung cấp dịch vụ”, ông cho hay.
Bên cạnh đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp lữ hành cũng cần thay đổi cách xây dựng sản phẩm, tăng liên kết giữa các địa phương để hình thành những hành trình dài hơn, đồng thời phát triển kinh tế đêm, ẩm thực, mua sắm, chăm sóc sức khỏe, văn hóa, nghệ thuật và các sản phẩm trải nghiệm.
Ông Hoan nhấn mạnh, lợi thế về an toàn và thân thiện là nền tảng nhưng chưa đủ để tạo sức hút lâu dài.
“An toàn và thân thiện chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ phải là điểm đến hấp dẫn và chuyên nghiệp”, ông nói.
Du lịch Việt Nam cần biến lợi thế về tài nguyên tự nhiên, văn hóa, giá cả và an toàn thành những sản phẩm có chiều sâu. Qua đó, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.








