• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Cảm thụ văn học: Khúc giao hòa của đất trời

Xuân Diệu đã mang đến cho thi đàn những áng thơ chạm đến từng cảm xúc mong manh mơ hồ nhất, và 'Nguyệt cầm' là một trong số đó.

Minh họa/INT.

Minh họa/INT.

Nguyệt cầm

Xuân Diệu

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh,

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh;

Lung linh bóng sáng bỗng rung mình

Vì nghe nương tử trong câu hát

Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,

Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi...

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.

Bốn bề ánh nhạc: Biển pha lê.

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.

Sương bạc làm thinh, khuya nín thở

Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

Con người với “y phục tối tân” ấy không ai khác chính là Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới. Giữa buổi giao thời của cái mới và những điều đã cũ, Xuân Diệu xuất hiện như một làn gió đầy lạ lẫm của văn chương.

Thơ ông không chỉ là những rạo rực, đắm say của tình yêu, của tuổi trẻ, mà còn mang những triết lí sâu sắc về cuộc đời, con người. Với niềm khát khao giao cảm với đời mãnh liệt, Xuân Diệu đã mang đến cho thi đàn những áng thơ chạm đến từng cảm xúc mong manh mơ hồ nhất. Và “Nguyệt cầm” là một trong số đó.

Nhà thơ Thanh Thảo đã từng trầm trồ ngưỡng mộ “Nguyệt cầm thuộc dạng siêu thơ” bởi “Nguyệt cầm” của Xuân Diệu không chỉ là một áng thơ mới, mà còn là sự giao thoa tinh tế giữa âm hưởng cổ điển và chất lãng mạn hiện đại, mang đậm tinh thần thuyết giao ứng của Baudelaire, khiến “Nguyệt cầm” trở thành khúc giao hòa tuyệt diệu của đất trời và con người.

Sự đồng điệu từ sâu thẳm

Bài thơ được cấu trúc thành bốn khổ tựa như một bản đàn với những giai điệu trầm bổng khác nhau. “Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh”, trăng qua bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ, tựa như một linh hồn bơ vơ, đang đi tìm chốn nương náu. Từ hình ảnh ánh trăng nhập vào dây cung vừa gợi nên dáng dấp người tì nữ đánh đàn dưới trăng theo nghĩa thực, vừa khiến ta liên tưởng đến những con người cô đơn đang tìm kiếm một tâm hồn đồng điệu cho riêng mình.

Xuân Diệu vốn dĩ được biết đến là ông hoàng thơ tình của thi ca Việt Nam, phải chăng vì thế mà trong mỗi hình ảnh thơ đều gửi gắm bản chất đẹp đẽ của tình yêu. Khi những người trẻ tiếp cận câu thơ, họ hoàn toàn có thể liên tưởng ánh trăng kia như những kẻ đang khao khát tình yêu mà dày công tìm kiếm một sự đồng điệu từ sâu thẳm bên trong. Bằng niềm nhạy cảm sâu xa Xuân Diệu đã thức dậy cả thị giác, thính giác, xúc giác trong cùng một câu thơ, qua đó thể hiện rõ quan điểm sống và sáng tác vượt thời gian “Sống toàn tim! toàn trí! Sống toàn hồn!/ Sống toàn thân! và thức nhọn giác quan”.

Đây là một quan điểm sống rất tích cực, đáng để người trẻ học hỏi trong nhịp sống đương đại, khi mà sự ra đời của các ứng dụng mạng xã hội, đã khiến ta đắm chìm trong thế giới ảo mà dần quên đi cách quan sát, lắng nghe, cũng như đánh mất đi sự thấu cảm tinh tế trong tâm hồn. Với quan niệm sâu sắc này, Xuân Diệu đã đánh thức ta tìm lại sự tương giao tuyệt vời giữa các giác quan mà tạo hóa đã ban tặng.

Nếu trăng trở thành linh hồn cho tiếng đàn, trăng và đàn giao hòa với nhau một cách mãnh liệt ở câu thơ thứ nhất, thì đến hai câu sau bằng việc vận dụng thành công thủ pháp nhân hóa, trăng mà biết nhớ, biết thương, đàn mà biết buồn, biết lặng, “Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần/ Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm”, đàn và trăng xuất hiện riêng lẻ ở mỗi câu thơ, kèm với đó là những trạng thái nhớ thương, gợi cho ta liên tưởng đến sự chia cách vời vợi trong tình duyên đôi lứa, từ đó mà nỗi buồn và sự cô đơn trỗi dậy mãnh liệt.

Nếu ví cả bài thơ như một bản nhạc, thì những câu thơ ở khổ đầu tựa như khúc dạo đầu, chậm rãi, nhưng tha thiết, sâu lắng. Từng nốt nhạc vang ra, chậm, tròn trịa, tựa hồ giọt nước mắt “Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân”.

“Giọt rơi tàn” ở đây phải chăng là giọt âm thanh, giọt ánh sáng hay cũng có thể là giọt lệ khi nghe tiếng đàn cất lên giữa đêm thanh vắng. Từ đó gợi nên sự mỏng manh của kiếp người, đặc biệt là những đấng tài hoa nhưng mệnh bạc trong quá khứ. Số phận của họ tựa như tiếng đàn vang lên mỏng manh lẻ loi rồi tan vào khoảng không bao la của vũ trụ.

Thơ ca nói riêng và văn chương nghệ thuật nói chung chưa bao giờ đóng khung trong một cách hiểu, độc giả ở mỗi thời đại, với hệ tư tưởng riêng luôn có những cảm nhận thú vị khác nhau.

Cùng một câu thơ, nhưng nếu nhìn một cách tích cực hơn thì ta có thể rút ra những chiêm nghiệm quý giá rằng dẫu cho cuộc đời có mỏng manh, hữu hạn tựa như “giọt rơi tàn” thì cũng đừng buồn bã hay sợ hãi, mà hãy sống thật trọn vẹn, thật rực rỡ cho những phút giây ngắn ngủi ấy giống như Xuân Diệu đã từng khẳng định trong Giục giã: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.

cam-thu-van-hoc-khuc-giao-hoa.jpg

Trăng qua bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ tựa như một linh hồn bơ vơ đang đi tìm chốn nương náu. Ảnh: Ngân Hà.

Hữu hình hóa cái vô hình

Cái hay của Xuân Diệu trong “Nguyệt cầm” không chỉ là sự tương hòa giữa các giác quan, mà còn là hữu hình hóa cái vô hình, để hình ảnh thơ trở nên chân thực, gần gũi và dễ hiểu hơn.

“Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh”; khoảng không gian cao rộng, tinh khiết của bầu trời được ví như thủy tinh trong suốt, mây ở đây không phải là không có mà là vắng, nghĩa là mọi bữa vẫn có nhưng chỉ riêng hôm nay là đi vắng, điều đó càng mang đến sự hụt hẫng, tiếc nuối. Trong không gian trong trẻo, không một gợn mây ấy, nỗi cô đơn trong lòng người không tìm được điểm tựa nương, cơn bão lòng vì thế tăng dần lên, khuếch đại theo chiều không gian, nỗi buồn vì thế mà mang tầm vóc vũ trụ.

“Linh lung bóng sáng bỗng rung mình”, phải chăng cả thiên nhiên đất trời đang lặng im nghe người nghệ sĩ tấu lên những giai điệu đầy da diết, âm thanh tiếng đàn trong trẻo, lúc trầm lắng, lúc dồn dập làm cho ánh trăng kia như run lên, từ “linh lung” vừa gợi một chuyển động khẽ khàng vừa mang lại chút gì đó rờn rợn, ghê sợ.

Hai câu thơ cuối của khổ hai như làm rõ hơn nguyên nhân cho cảm xúc ghê sợ ấy “Vì nghe nương tử trong câu hát/ Đã chết đêm rằm theo nước xanh”. Câu thơ gợi đến nhiều liên tưởng khác nhau, nương tử ở đây có thể là hình ảnh người tì nữ đánh đàn trong thơ Bạch Cư Dị năm xưa, cũng có thể là hình ảnh của nàng Vương Chiêu Quân, người đàn bà tuyệt sắc với ngón đàn bi ai, đến nỗi một ngày vì quá thương nhớ quê hương ôm đàn tấu lên bản “Xuất tái khúc” khiến một con ngỗng trời bay ngang nghe nỗi ai oán bi thương trong khúc nhạc liền đứt ruột gan và sa xuống đất.

Vì sắc đẹp của Chiêu Quân khiến vua Hung Nô say đắm nên Hán Nguyên Đế đưa nàng sang cống nạp Hung Nô để cầu hòa, khi qua cửa ải Nhạn Môn Quan nàng đã ôm đàn tấu lên một khúc nhạc bi thiết rồi gieo mình xuống tự vẫn.

Từ câu chuyện ấy khiến ta thấy “nước xanh” ở đây không còn là dòng nước trong trẻo dịu êm, mà là dòng nước mang cái vẻ hoang dại vô tình của tạo hóa, là nơi đón nhận những linh hồn còn xanh của sức trẻ. Câu thơ vì thế mà gợi liên tưởng đến những kiếp người tài hoa bạc mệnh, số phận mỏng manh, rơi rụng như tiếng đàn.

“Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời”, không gian thu càng về khuya ánh trăng càng sáng rõ, cái lạnh vì thế mà thấm vào da thịt, từ “lạnh” được đặt độc lập ở câu thơ thứ hai, cái lạnh toát ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trong những vần thơ của mình, Xuân Diệu đã sử dụng một cách tài tình thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác tạo nên một thế giới nghệ thuật đa chiều, đầy ấn tượng và tràn ngập sự hòa quyện.

“Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi”, cảm giác lạnh và ghê như nước có thể đến từ dây đàn kim loại qua cảm nhận của xúc giác của người nghệ sĩ khi chạm vào dây đàn, hoặc cũng có thể là âm sắc trong trẻo, cao vút, của tiếng đàn chạm vào miền cảm xúc sâu thẳm trong tâm hồn của chủ thể trữ tình.

Nếu khổ thơ đầu là khúc dạo đầu với những nốt trầm đầy xao xuyến thì ở khổ thơ thứ ba, đây dường như là khúc cao trào, là đoạn điệp khúc réo rắt của bản nhạc. Từ “trời ơi” vang lên như một tiếng kêu thảng thốt của một tâm hồn mềm yếu trước cái lạnh của không gian và trước âm thanh đầy tha thiết của tiếng đàn cất lên giữa đêm trăng.

Cái hay của Xuân Diệu là ông đã hữu hình hóa những điều vô hình và âm thanh hóa những điều tĩnh lặng, mở ra một không gian cảm xúc phong phú và mới lạ. Tiếng đàn trong thơ ông không chỉ là một chuỗi âm thanh vô hình, mà còn được cảm nhận như một vật thể có hình khối, có sự lan tỏa. Khi tiếng đàn được ví “ghê như nước” nó không còn là thính giác đơn thuần, mà đã chạm đến xúc giác của người đọc, gợi lên cảm giác rùng mình, lạnh lẽo.

Hình ảnh “Long lanh tiếng sỏi” lại càng độc đáo hơn, khi một âm thanh lại có thể mang theo sự lấp lánh của ánh sáng, biến cái vô hình thành một vật thể hữu hình, có sự phản chiếu. Thủ pháp đảo ngữ được nhà thơ vận dụng tài tình, góp phần hữu hình hóa âm thanh, gợi nhiều liên tưởng độc đáo cho người đọc, cái long lanh ở đây có thể là sự tương giao chặt chẽ giữa ánh trăng và tiếng đàn, tạo cảm giác về sự lấp lánh của âm thanh, và ánh sáng phát ra từ tiếng đàn như đọng vào sỏi đá, khiến cho vạn vật như cũng đắm say cùng giai điệu tuyệt vời giữa khoảng không gian bao la.

“Vang vang hận”, tiếng đàn như mang theo biết bao tâm tư của người nghệ sĩ sáng tạo và dòng cảm xúc mãnh liệt ấy như có sợi dây kết nối vô hình giữa người tạo ra cái đẹp và kẻ tương tri biết thưởng thức vẻ đẹp cao quý ấy. Tiếng đàn không chỉ mang theo tài hoa, mà còn là lời ai oán, là mối hận về một số kiếp bạc mệnh đã định sẵn với những kẻ tài hoa. Trong khoảng không gian ấy, qua cách miêu tả của Xuân Diệu, thiên nhiên vũ trụ như giao hòa với nhau mãnh liệt, tất cả kết nối với nhau tạo nên khúc giao hưởng của vũ trụ.

“Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người”, Tầm Dương là tên một con sông ở tỉnh Giang Tây (Trung Quốc), được Bạch Cư Dị đời Đường nói đến trong bài thơ “Tỳ bà hành” nổi tiếng, viết về tâm trạng cô đơn của một người kỹ nữ rất giỏi đàn. Phải chăng câu thơ, là cảm xúc bồi hồi khi nhớ đến những tài hoa nghệ thuật trong quá khứ.

Khổ cuối bài thơ như khúc vĩ thanh kết thúc bản đàn tuyệt diệu, khắp không gian như chìm ngập trong tiếng đàn, sự tương giao kì diệu của các giác quan một lần nữa được ông hoàng thơ tình vận dụng, “ánh nhạc” âm thanh không chỉ được cảm nhận bằng thính giác, mà còn là màn chiêu đãi tuyệt vời cho thị giác bởi âm thanh ấy được tấu lên giữa ánh trăng đêm thu. Tiếng đàn như hóa thành đại dương mênh mang và sâu thẳm khi mỗi giọt âm thanh vừa là trăng là nhạc, là pha lê.

“Bốn bề ánh nhạc: Biển pha lê/ Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề” hình ảnh “bốn bề” ở đầu câu thơ thứ nhất và được điệp lại lần nữa để khép lại câu thơ thứ hai, vừa mở ra một không gian vô tận, trong khiết vô ngần tựa ánh pha lê, nhưng trước khoảng không trong ngần ấy, con người ta càng cảm thấy cô đơn. Hai câu thơ như mở ra một khoảng không rộng lớn của vũ trụ nhưng dường như đang đóng khung một con người với cái tôi lẻ loi cô độc, tự nhốt mình trong ốc đảo xa xôi.

“Sương bạc làm thinh, khuya nín thở”, phép nhân hóa biến thiên nhiên vô tri vô giác như những người cảm nhạc thực thụ, tất cả dường như đang lặng im thả hồn phiêu diêu cùng với tiếng đàn. Như ánh hoàng hôn buổi chiều tà luôn là thời khắc rực rỡ nhất, và trước khi giai điệu của bản đàn kết thúc thường có khúc vĩ thanh cuối cùng, ngân vang lên, rồi lịm dần trong hư vô, câu thơ “Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê” phải chăng là đoạn ngân vang cuối cùng ấy của bản đàn, một mối liên kết kì diệu của vũ trụ đã được Xuân Diệu tái hiện tài tình trong “Nguyệt cầm”.

Sao Khuê là tên một chòm sao trong thiên văn Trung Quốc thời cổ đại, trong văn hóa Đông Á nói chung sao Khuê được coi là biểu tượng của văn chương, nghệ thuật. Âm thanh tiếng đàn cứ ngân vọng mãi vào khoảng không vô tận còn con người như cứ nhỏ đi rồi chìm mãi, câu thơ là sự cảm nhận sâu sắc nỗi cô đơn muôn đời của những tài hoa nghệ thuật.

Có thể thấy kết lại mỗi khổ thơ đều là những dòng thơ xúc động, nói lên tiếng nói tri âm của Xuân Diệu với những đấng tài hoa bạc mệnh, đây được xem là tình nghệ sĩ cao đẹp mà nhà thơ dành đến cho những tâm hồn đồng điệu.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết