Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản: Nâng tầm giá trị, bứt tốc cuối năm
Để mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản về đích 74 tỷ USD trong năm 2026, đòi hỏi 4 tháng cuối năm cần đạt khoảng 24,9 tỷ USD, bình quân phải thu về được 6,23 tỷ USD mỗi tháng.
Như vậy, những tháng còn lại xuất khẩu nông, lâm, thủy sản phải tăng tốc, đồng thời kiểm soát chất lượng, nguồn cung, thiên tai, truy xuất nguồn gốc và nâng giá trị nông sản Việt Nam.

Để mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản về đích 74 tỷ USD trong năm 2026, đòi hỏi 4 tháng cuối năm cần đạt khoảng 24,9 tỷ USD. Ảnh minh họa: VGP
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 49,3 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ, tạo nền tảng cho chặng cuối năm.
Trong đó, nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; lâm sản 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; nhóm đầu vào sản xuất tăng 64,8%, đạt 2,61 tỷ USD. Một số nhóm hàng tăng khá, song một số ngành hàng vẫn chịu sức ép về giá, chất lượng và thị trường.
Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 35,06 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu 14,25 tỷ USD. Đây là điểm tựa, cho thấy ngành nông nghiệp vừa bảo đảm nguồn cung vừa tạo nguồn thu ngoại tệ.
Trong bối cảnh hàng rào kỹ thuật, yêu cầu môi trường và truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt, năng lực cạnh tranh không còn chỉ được quyết định bởi sản lượng hay giá bán. Một lô hàng đáp ứng đúng quy định mới giữ thị trường lâu dài.
Do vậy, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 74 tỷ USD trong năm 2026 đòi hỏi cần tính toán sát từng tháng, từng ngành hàng. Theo kế hoạch, 4 tháng cuối năm cần đạt khoảng 24,9 tỷ USD, bình quân 6,23 tỷ USD mỗi tháng.
Theo ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sản xuất phải bám sát kịch bản đến từng lĩnh vực, từng sản phẩm; đồng thời thường xuyên cập nhật sản lượng, giá trị, thị trường và các yếu tố tác động để điều chỉnh kịp thời.
4 tháng cuối năm, yêu cầu không chỉ là có thêm hàng để xuất khẩu, mà phải bảo đảm nguồn cung ổn định, kiểm soát chất lượng và nâng giá trị sản phẩm. Nếu chạy theo sản lượng, rủi ro về chất lượng, logistics, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn nhập khẩu có thể gia tăng.
Vì vậy, tăng trưởng xuất khẩu phải được đặt trong kịch bản tổng thể, nơi sản xuất, thị trường và phòng chống thiên tai được tính toán đồng thời.
Kết quả xuất siêu là điểm tựa, cho thấy ngành nông nghiệp vừa bảo đảm nguồn cung vừa tạo nguồn thu ngoại tệ. Song, khi thị trường đặt nặng tiêu chuẩn, dư địa tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào khả năng tổ chức sản xuất theo chuẩn, thay vì chỉ mở rộng sản lượng.
Đây cũng là lúc từng ngành hàng nông, lâm, thủy sản sớm nhận diện rủi ro, cập nhật thị trường và điều chỉnh phương án phù hợp .
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Diệp cho biết, trong 4 tháng cuối năm, muốn tăng giá trị xuất khẩu, điểm nghẽn phải được xử lý ngay từ vùng nguyên liệu. Mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là thủ tục phục vụ xuất khẩu, mà đang trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Trong bối cảnh thị trường nhập khẩu nâng chuẩn, kiểm soát chất lượng cần xuyên suốt từ sản xuất, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ, với sự phối hợp giữa địa phương và doanh nghiệp, ngành tiếp tục triển khai các giải pháp gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU.
Ông Diệp cho rằng, đây không chỉ là nhiệm vụ của thủy sản mà còn liên quan đến uy tín nông sản Việt Nam, khi tính minh bạch và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng được coi trọng.
Cùng với mục tiêu xuất khẩu, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu giữ vững tốc độ tăng trưởng GDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cả năm ở mức 4%. Như vậy, nhiệm vụ những tháng cuối năm không chỉ là tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn phải bảo đảm nguồn cung, duy trì sản xuất ổn định và nâng cao giá trị của từng ngành hàng.
Trong xuất khẩu, trọng tâm là theo dõi sát từng thị trường, chủ động tháo gỡ các rào cản kỹ thuật; đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là những điều kiện quan trọng để nông sản Việt duy trì thị trường hiện có và mở rộng sang các thị trường mới.
Theo kịch bản để đạt mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản về đích 74 tỷ USD trong năm 2026, quý III cần đạt khoảng 4,2%, 9 tháng đạt 4,1% và quý IV khoảng 4,2%. Song song, phải đồng thời bảo đảm an toàn sản xuất, nguồn nước, phòng chống thiên tai, duy trì thị trường xuất khẩu và nâng giá trị sản phẩm.
Về thị trường, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 11,2 tỷ USD, chiếm 22,7% thị phần và tăng 22,1%. Hoa Kỳ đạt 9,4 tỷ USD, chiếm 19,1%, giảm nhẹ 0,4%; Nhật Bản đạt 3,3 tỷ USD, chiếm 6,8%, tăng 2%.








