Xác lập mô hình tăng trưởng mới cho mục tiêu tăng trưởng 10%
Trong Diễn văn bế mạc Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam chiều 23/1, Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa nhấn mạnh về tinh thần "đổi mới", trong đó, phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện. Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã có cuộc phỏng vấn PGS. TS. Nguyễn Anh Phong – Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) để chia sẻ rõ hơn về điều này.
Phóng viên: Thưa ông, trong bài phát biểu khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh về một trong 8 nội dung xuyên suốt tập trung triển khai là xác lập mô hình tăng trưởng mới. Ông đánh giá như thế nào về nội dung này?
|
| PGS. TS. Nguyễn Anh Phong – Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) |
PGS. TS. Nguyễn Anh Phong: Việc Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một định hướng đúng đắn, kịp thời và có cơ sở khoa học vững chắc. Dưới góc nhìn các mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại, đây là sự chuyển dịch tất yếu từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên, sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, lấy năng suất, đổi mới sáng tạo và tiến bộ công nghệ làm động lực trung tâm. Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng truyền thống ngày càng thu hẹp, việc phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số sẽ giúp nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp và chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.
Đồng thời, việc kết hợp kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn cho thấy tư duy phát triển bền vững và dài hạn, phù hợp với xu thế toàn cầu và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Các mô hình tăng trưởng hiện đại chỉ ra rằng bảo vệ môi trường và giảm phát thải không còn là "chi phí" của tăng trưởng, mà có thể trở thành động lực tăng trưởng mới thông qua đổi mới công nghệ xanh và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Vấn đề then chốt trong thời gian tới là hoàn thiện thể chế và chính sách để chuyển hóa định hướng chiến lược này thành động lực tăng trưởng thực chất, hiệu quả và bền vững.
Phóng viên: Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh về đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Nghị quyết số 01/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 cũng nhấn mạnh về nhiệm vụ này. Điều này có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hiện nay, thưa ông?
PGS. TS. Nguyễn Anh Phong: Việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Nghị quyết số 01/NĐ-CP của Chính phủ tiếp tục nhấn mạnh đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Dưới góc nhìn các mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại, đầu tư hạ tầng không chỉ là công cụ kích thích tăng trưởng ngắn hạn, mà còn là nền tảng của tăng trưởng dài hạn, quyết định năng suất, mức độ kết nối và khả năng tham gia hiệu quả của nền kinh tế vào các mạng lưới sản xuất, thương mại khu vực và toàn cầu. Hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số chính là "xương sống" của mô hình tăng trưởng dựa trên kết nối kinh tế và chuỗi cung ứng, giúp giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian lưu thông và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ở góc độ tài khóa, chi tiêu công cho đầu tư hạ tầng trong giai đoạn này đóng vai trò "vốn mồi", tạo hiệu ứng lan tỏa và dẫn dắt dòng vốn tư nhân và FDI. Khi hệ thống logistics và kết nối vùng được cải thiện, doanh nghiệp trong nước có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu, chuyển từ vai trò gia công, lắp ráp sang các khâu có giá trị gia tăng cao hơn. Do đó, đột phá hạ tầng không chỉ là một nhiệm vụ đầu tư, mà là đòn bẩy chiến lược để tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế số, kinh tế xanh, nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu và tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Phóng viên: Liên quan đến hạ tầng, thì hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu được coi là nền tảng cho kinh tế số và hội nhập thương mại quốc tế. Theo ông, tại sao lần đầu tiên chúng ta đề cập đến hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu?
PGS. TS. Nguyễn Anh Phong: Việc lần đầu tiên hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu được nhấn mạnh phản ánh một sự thay đổi căn bản trong mô hình tăng trưởng và phương thức hội nhập của nền kinh tế. Trong mô hình kinh tế số, dữ liệu, nền tảng số và kết nối số trở thành các yếu tố đầu vào quan trọng không kém, thậm chí quyết định hơn so với vốn vật chất truyền thống. Hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu không chỉ phục vụ chuyển đổi số trong nước, mà còn là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp Việt Nam tham gia hiệu quả vào thương mại quốc tế, chuỗi cung ứng và các mô hình kinh doanh xuyên biên giới dựa trên nền tảng số.
Ở góc độ công nghệ, việc đặt hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu ngang tầm với hạ tầng giao thông hay năng lượng cho thấy nhận thức rõ ràng rằng năng suất, khả năng cạnh tranh và vị thế quốc gia trong kỷ nguyên số phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lực xử lý, kết nối và khai thác dữ liệu. Hạ tầng dữ liệu giúp hình thành các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại điện tử, logistics thông minh, tài chính số và quản trị công hiện đại, đồng thời giúp nền kinh tế nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Vì vậy, việc lần đầu tiên đề cập đến hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu không chỉ mang ý nghĩa bổ sung, mà là bước chuyển chiến lược để hiện thực hóa mô hình tăng trưởng dựa trên kinh tế số, công nghệ và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu.
Phóng viên: Tại Nghị quyết số 01/NĐ-CP, Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên. Theo ông, chúng ta cần làm gì để đạt mục tiêu này?
PGS. TS. Nguyễn Anh Phong: Để phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên theo tinh thần Nghị quyết số 01/NĐ-CP, Việt Nam cần triển khai một "gói động lực" kết hợp kích hoạt tổng cầu, nâng năng suất, mở rộng năng lực cung ứng, dựa trên đúng thế mạnh cốt lõi (mạng lưới FTA, vai trò trong chuỗi cung ứng khu vực, lực lượng lao động dồi dào, nền sản xuất xuất khẩu mạnh) nhưng đồng thời khắc phục các nút thắt về hạ tầng, thể chế và năng lực công nghệ. Nghị quyết số 01/NĐ-CP đã xác định rõ đây là "mệnh lệnh tăng tốc" với mục tiêu tăng trưởng cao ngay năm đầu của giai đoạn 2026–2030. Theo tôi, có 6 nhóm việc cần làm ngay và làm mạnh để đạt mục tiêu 10%, gồm:
Một là, đẩy nhanh và nâng chất đầu tư công, coi giải ngân là "đầu kéo", tập trung vào các dự án tạo năng lực mới cho nền kinh tế: cao tốc - vành đai - cảng biển - đường sắt logistics, năng lượng và hạ tầng số. Kinh nghiệm gần đây cho thấy đầu tư công là một động lực quan trọng khi khu vực tư nhân/FDI có lúc thận trọng; nhưng muốn "ra số" phải tháo triệt để các điểm nghẽn như giải phóng mặt bằng, thủ tục, đấu thầu.
Hai là, giữ đà xuất khẩu và "nâng cấp" vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu, chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang dựa vào giá trị gia tăng: tăng nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, logistics thông minh, dịch vụ hậu cần - tài chính - bảo hiểm cho xuất khẩu; thu hút FDI chọn lọc vào R&D, bán dẫn/điện tử, thiết bị điện, trung tâm dữ liệu. Năm 2025, Việt Nam tăng trưởng cao và được nhấn mạnh vai trò ngày càng tăng trong chuỗi cung ứng; năm 2026 cần biến lợi thế này thành năng suất và giá trị.
Ba là, mở rộng động lực từ thị trường trong nước và khu vực dịch vụ hiện đại (bán lẻ, du lịch, logistics, tài chính, giáo dục, y tế tư nhân), thông qua giảm chi phí tuân thủ, cải thiện tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy đầu tư tư nhân. Đây là "chân kiềng" giúp tăng trưởng bền hơn khi thương mại toàn cầu biến động.
Bốn là, tăng tốc kinh tế số và năng suất dựa trên công nghệ: triển khai hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, phổ cập kỹ năng số cho lao động, thúc đẩy ứng dụng AI/IoT trong sản xuất - logistics - nông nghiệp; đồng thời hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu, thanh toán số, an toàn an ninh mạng để doanh nghiệp mở rộng quy mô nhanh.
Năm là, bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch xanh "không làm đứt gãy" sản xuất, ưu tiên lưới điện, nguồn điện, cơ chế mua bán điện minh bạch, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh của thị trường xuất khẩu. Thiếu điện/chi phí năng lượng tăng sẽ "ăn" trực tiếp vào tăng trưởng công nghiệp.
Sáu là, cải cách thể chế theo hướng "nhanh, rõ, chịu trách nhiệm": cắt giảm thời gian phê duyệt dự án, nhất quán chính sách, tăng kỷ luật thực thi ở địa phương; đây là điều kiện để đầu tư công, đầu tư tư nhân và FDI cùng "chạy" trong một nhịp đúng tinh thần cải cách hành chính và thúc đẩy hạ tầng mà các phát biểu/nội dung gần đây đều nhấn mạnh.
Phóng viên: Như vậy, để đạt mục tiêu 10%, chúng ta cần phải đổi mới cách làm. Trong Diễn văn bế mạc Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam chiều 23/1, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng lại một lần nữa nhấn mạnh về tinh thần "đổi mới". Ông nghĩ sao về điều này, thưa ông?
PGS. TS. Nguyễn Anh Phong: Trong bài phát biểu bế mạc của mình, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tinh thần "đổi mới". Bởi không đổi mới, cải cách thì không thể bứt phá, không thể cạnh tranh, không thể phát triển. "Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện, để đường lối đúng trở thành kết quả cụ thể trong cuộc sống". Tôi cho rằng, tinh thần đó sẽ lan tỏa đến tất cả hệ thống chính trị, toàn người dân, cộng đồng doanh nghiệp để chúng ta thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước từ 10% trở lên trong năm 2026 và các năm tiếp theo, đồng thời thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!








