Nghị quyết số 79-NQ/TW: Tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế.
1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước lọt TOP 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới
Ngày 6/1/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Theo đó, Nghị quyết đã khẳng định nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động từ đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài sản kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
|
| Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2023, Việt Nam phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và đặc biệt là từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước góp mặt trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. |
Một trong những điểm nhấn được đánh giá mang tính đột phá của Nghị quyết nằm ở hệ thống mục tiêu định lượng về quy mô doanh nghiệp. Cụ thể, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và đặc biệt là từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước góp mặt trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế; 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.
Về tổ chức tín dụng nhà nước, phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng.
Tỉ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; tỉ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 35 - 40% tổng chi ngân sách, tỉ trọng chi thường xuyên khoảng 50 - 55% tổng chi ngân sách. Phấn đấu mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP vào năm 2030. Rà soát, sắp xếp, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.
Về tầm nhìn dài hạn, phấn đấu đến năm 2045, mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, cung ứng dịch vụ công chất lượng cao, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội; cùng với các khu vực kinh tế khác hiện thực hoá mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Thu hút và trọng dụng nhân tài
Một trong những điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết số 79-NQ/TW là chất lượng nguồn nhân lực. Nghị quyết yêu cầu xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia trong khu vực kinh tế nhà nước có trình độ cao, thu nhập tương xứng với thị trường lao động, đi kèm các chính sách đủ mạnh để thu hút và trọng dụng nhân tài, gắn với chuẩn mực về năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công việc.
Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, trong trường hợp không có động cơ tham nhũng, vụ lợi. Quy trình xem xét sai sót phải bảo đảm độc lập, toàn diện, minh bạch, phân biệt rõ sai phạm pháp luật với rủi ro khách quan - một thông điệp rất mạnh nhằm giải tỏa tâm lý sợ trách nhiệm, vốn là điểm nghẽn kéo dài trong khu vực công và doanh nghiệp nhà nước.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng đặt yêu cầu hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về kinh tế nhà nước, trong đó dữ liệu về chủ thể, vốn, tài sản và các nguồn lực phải được chuẩn hóa, quản lý thống nhất, cập nhật thường xuyên, bảo đảm tính liên thông và an toàn thông tin. Dữ liệu không chỉ phục vụ lưu trữ, mà còn phải được khai thác như một công cụ giám sát, đánh giá hiệu quả quản lý vốn và tài sản nhà nước, qua đó phục vụ công tác hoạch định chính sách, phân bổ và điều tiết nguồn lực một cách khoa học, kịp thời.
Song song với đó, Nghị quyết yêu cầu chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chồng chéo, kéo dài; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động giám sát, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi lạm dụng thanh tra gây cản trở hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, Nghị quyết yêu cầu chuyển giao về các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh và đầu tư vốn nhà nước, hoặc doanh nghiệp nhà nước cùng ngành nghề để thực hiện tái cơ cấu, bổ sung vốn hoặc thoái vốn, bảo đảm hiệu quả đầu tư.
Nguồn lực nhà nước sẽ được tập trung đầu tư vào một số tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực then chốt như: quốc phòng - an ninh, năng lượng, tài chính - ngân hàng, logistics, hạ tầng số, công nghệ cao, khai thác khoáng sản chiến lược, hóa chất, vật liệu xây dựng, nông - lâm nghiệp…
Các cơ chế mới cho phép tăng vốn điều lệ, giữ lại tỷ lệ lợi nhuận sau thuế cao hơn, sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn, đồng thời khuyến khích sáp nhập, hợp nhất nhằm hình thành những "quả đấm thép" thực sự, thay vì phân tán nguồn lực.








