• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Những đóng góp to lớn của cụ Huỳnh Thúc Kháng với sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Từ phong trào Duy Tân đến những năm tháng hoạt động cách mạng sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, suốt cuộc đời mình, cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947) đã có những đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thư cho đồng bào toàn quốc ngày 29/4/1947 đã từng khẳng định: cụ Huỳnh Thúc Kháng là một bậc đại chí sĩ “học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”, suốt đời “phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.

Tích cực cứu nước bằng khai dân trí, chấn dân khí, phát triển dân sinh

Sau khi đỗ Tiến sĩ năm 1904, cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà cùng các sĩ phu yêu nước như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp khởi xướng và trở thành một trong những linh hồn của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ với tôn chỉ “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Trong đó, “khai dân trí” được đặt lên làm mệnh đề tiên quyết. Theo các nhà nghiên cứu, “khai dân trí” cần được hiểu rộng hơn việc dạy người dân biết chữ. Đó là giúp mỗi người có khả năng nhận biết quyền lợi, trách nhiệm của mình. Điều này là thực sự cần thiết trong bối cảnh xã hội Việt Nam lúc bất giờ khi đời sống nhân dân cơ cực, người dân gần như không có cơ hội tiếp cận với tri thức, giáo dục, dẫn tới những hạn chế về nhận thức. Mong muốn đất nước giàu mạnh phải bắt đầu từ việc người dân có cơ hội học hành, có điều kiện làm ăn và có tiếng nói đối với những vấn đề liên quan đến cuộc sống của mình.

anh2.png

Cụ Huỳnh Thúc Kháng. (Ảnh tư liệu).

Từ quan điểm đó, trong hoạt động Duy Tân, cụ Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng việc nâng cao nhận thức của Nhân dân. Cụ tích cực tuyên truyền, diễn thuyết ở nhiều nơi, vận động Nhân dân từ bỏ lối học khoa cử, chú trọng thực học, học chữ Quốc ngữ, tiếp thu tư tưởng tiến bộ và mở mang tri thức. Cùng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và các sĩ phu tiến bộ, cụ tham gia vận động mở trường tân học, khuyến khích học tập, phát triển thương nghiệp, lập thương hội, cổ vũ sản xuất và thực nghiệp. Qua đó, một phong trào cải cách xã hội từng bước hình thành và lan rộng ở Quảng Nam và các tỉnh Trung Kỳ. Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng, khai trí phải gắn với chấn hưng kinh tế và cải thiện đời sống Nhân dân. Vì vậy, cụ không chỉ đề cao giáo dục mà còn chú trọng phát triển thương nghiệp, thực nghiệp, khuyến khích sản xuất và nâng cao dân sinh. Cụ tích cực giao lưu, bàn bạc với những người cùng chí hướng, trong đó có Phan Bội Châu và Nguyễn Thành, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các tổ chức, cơ sở Duy tân ở Quảng Nam.

Trong các hoạt động tuyên truyền, diễn thuyết, cụ Huỳnh Thúc Kháng tập trung vào những vấn đề thiết thực của công cuộc duy tân: khai trí, phát triển kinh tế, thực hành tiết kiệm, cải tiến đời sống, từ bỏ lối học khoa cử, đề cao thực học và tiếp thu văn hóa, tri thức phương Tây. Cụ đồng thời tích cực truyền bá tư tưởng dân quyền, vận động Nhân dân thay đổi nhận thức và chủ động tham gia vào quá trình cải cách xã hội. Hoạt động của cụ có ảnh hưởng sâu rộng trong sĩ phu và nhân dân Quảng Nam, góp phần đưa tư tưởng duy tân từ phạm vi một bộ phận sĩ phu tiến bộ trở thành một phong trào xã hội có sức lan tỏa. Năm 1905, cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp, cụ Huỳnh Thúc Kháng có những hoạt động sôi nổi tại trường thi Bình Định, qua đó thể hiện rõ thái độ phản đối lối học từ chương, đề cao thực học và tinh thần canh tân. Cùng với việc mở trường, lập hội buôn, phát triển thương nghiệp, khuyến khích học chữ Quốc ngữ và tuyên truyền tư tưởng dân quyền, những hoạt động này tạo nên những nét nổi bật của phong trào Duy tân ở Quảng Nam, trong đó cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trong những người tổ chức, tuyên truyền và thúc đẩy quan trọng.

Hoảng sợ, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, bắt và đày cụ ra Côn Đảo. 13 năm tù ngục (1908-1921) vẫn không khuất phục được ý chí của cụ. Chuyện kể rằng dù tại “địa ngục trần gian”, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn cùng những chí sĩ yêu nước tổ chức ngâm thơ, xướng họa, bàn luận về thời cuộc, chính trị và con đường canh tân đất nước. Những hoạt động ấy không chỉ giúp các tù nhân chính trị giữ vững tinh thần trong hoàn cảnh khắc nghiệt mà còn củng cố tình đoàn kết, nuôi dưỡng ý chí đấu tranh và khát vọng giành lại độc lập cho dân tộc.

Sau khi được trả tự do và trở về đất liền, cụ tiếp tục con đường đấu tranh cho dân sinh, dân chủ. Năm 1926, với tài năng và uy tín trước nhân dân, cụ được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Cụ đã dùng nghị trường để tố cáo chính sách cai trị hà khắc, đòi quyền lợi cho nhân dân. Khi tiếng nói ấy bị áp chế, cụ khẳng khái từ chức vào năm 1928.

Tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc

anh1.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Ảnh tư liệu).

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, dù ở tuổi gần 70, cụ Huỳnh vẫn nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Hà Nội gánh vác việc nước, trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc, kháng chiến và kiến quốc.

Ngày 2/3/1946, tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I, Quốc hội chấp nhận sự từ chức của Chính phủ Liên hiệp lâm thời và trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiệm vụ thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Khi giới thiệu thành phần Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng phụ trách những lĩnh vực then chốt như tổ chức và củng cố chính quyền, xây dựng bộ máy hành chính, công chức, công vụ, pháp chế, hành chính, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự trị an và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước. Trong hoàn cảnh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, phải đối mặt với nhiều khó khăn đối nội và đối ngoại, Cụ phát huy uy tín, kinh nghiệm và trí tuệ, bản lĩnh để cùng Chính phủ từng bước xây dựng nền móng của chính quyền cách mạng. Cụ Huỳnh đã giải quyết nhiều công việc nội chính quan trọng để giữ gìn trật tự, kỷ cương khi nước mới thành lập. Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã chỉ đạo đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Bộ, ban hành nhiều nghị định, thông tư nhằm hoàn thiện cơ cấu chính quyền cách mạng và chế độ công chức, công vụ.

Tháng 5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao trọng trách giữ quyền Chủ tịch nước, điều hành mọi công việc quan trọng của đất nước theo phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, đối diện với những sóng gió từ cả bên ngoài lẫn bên trong như: đối diện và trừng trị những phần tử Việt gian phản động, giải quyết vụ án ở phố Ôn Như Hầu, phá tan đảng phái phản động Việt Quốc, Việt Cách và cải tổ Chính phủ liên hiệp kháng chiến, thực hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược.

Một trong những đóng góp rất lớn của cụ Huỳnh là củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện chủ trương của Đảng, cụ Huỳnh tích cực tham gia vận động, thành lập và giữ chức Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, bên cạnh Mặt trận Việt Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Hội đó đã thực hiện sự đại đoàn kết của toàn dân gồm tất cả các từng lớp đảng phái, tôn giáo và dân tộc trong nước Việt Nam. Tinh thần của Hội đó là yêu nước, chương trình là quyết tranh đấu cho Tổ quốc được thống nhất độc lập và dân chủ phú cường”.

Tham gia Chính phủ liên hiệp trong thời gian ngắn (1945 - 1947), đúng vào thời điểm có nhiều khó khăn và thử thách nhưng cụ Huỳnh Thúc Kháng đã có những đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi nhận: "Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh, quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ".

Từ một đại khoa từ chối con đường quan trường đến chí sĩ Duy Tân, nhà báo, Bộ trưởng Bộ Nội vụ rồi Quyền Chủ tịch nước, cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại một bài học sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh dân tộc: Yêu nước phải gắn với hành động, thương dân phải thể hiện bằng việc làm, khi Tổ quốc cần thì sẵn sàng nhận nhiệm vụ dù tuổi cao, sức yếu.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết