Văn hóa được xác lập đúng vị thế sẽ tạo nguồn lực phát triển bền vững
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 7-1-2026 về phát triển văn hóa Việt Nam được giới hoạt động văn hóa và văn nghệ sĩ đánh giá là một dấu mốc quan trọng, mở ra tư duy mới, hành lang pháp lý mới và nguồn lực mới cho lĩnh vực văn hóa.
Phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã trao đổi với NSND Trịnh Thúy Mùi, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam về “cú hích” mang tính lịch sử mà Nghị quyết 80 tạo ra, góp phần mở đường cho phát triển công nghiệp văn hóa - động lực tăng trưởng mới của đất nước và của Thủ đô trong giai đoạn tới.

- Thưa NSND Trịnh Thúy Mùi, việc ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW trong bối cảnh hiện nay mang tính kịp thời như thế nào?
- Tôi cho rằng, đây là thời điểm chín muồi. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 80-NQ/TW ra đời đã khẳng định rõ quan điểm văn hóa phải đi trước, soi đường và thấm sâu vào từng quyết sách phát triển.
Giới hoạt động văn hóa và văn nghệ sĩ vì thế rất phấn khởi, như được tiếp thêm động lực, đồng thời ý thức rõ hơn trách nhiệm của mình. Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước khi đặt văn hóa ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia. Sự ra đời của Nghị quyết là kịp thời cả về tư duy lẫn hành động; bởi khi văn hóa được xác lập đúng vị thế, đất nước sẽ có thêm nền tảng và nguồn lực cho phát triển bền vững.
- Vậy theo bà, ý nghĩa lớn nhất của Nghị quyết số 80-NQ/TW đối với văn hóa Việt Nam nói chung và văn học, nghệ thuật nói riêng là gì?
- Điều tôi tâm đắc nhất là Nghị quyết xác lập vị thế phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế - xã hội. Văn hóa không phải chỉ là một lĩnh vực phụ trợ, mà trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển bền vững đất nước. Khi đã được đặt ngang hàng, văn hóa sẽ được đầu tư đúng mức, được hoạch định chiến lược dài hạn, có chỉ tiêu, có cơ chế cụ thể.
Nghị quyết cũng khẳng định việc chuyển tư duy từ “hỗ trợ” sang “đầu tư”. Đầu tư cho văn hóa đồng nghĩa với đầu tư cho tương lai đất nước. Cách nhìn này rất quan trọng, bởi đầu tư thì phải tính toán hiệu quả, tạo môi trường để sáng tạo và khơi thông nguồn lực xã hội.
Với văn học, nghệ thuật, Nghị quyết đưa ra những giải pháp rất rõ về đào tạo nhân tài, đặt hàng tác phẩm lớn, hoàn thiện thiết chế, ứng dụng công nghệ số, phát triển công nghiệp văn hóa... Giới văn nghệ sĩ cảm nhận đang đứng trước một giai đoạn mới, sáng tạo được trân trọng và có điều kiện lan tỏa mạnh mẽ hơn.
- Nhiều ý kiến chuyên gia đánh giá Nghị quyết 80-NQ/TW là “cú hích lịch sử” khi đặt nhiệm vụ phát triển văn hóa ngang tầm kinh tế. Bà nhìn nhận thế nào về điều này?
- Tôi hoàn toàn đồng tình. Từ trước tới nay, chúng ta thường nói kinh tế là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần. Nhưng khi đặt ngang hàng, nghĩa là hai lĩnh vực này cùng song hành, hỗ trợ lẫn nhau. Kinh tế phát triển mà thiếu văn hóa thì thiếu chiều sâu. Văn hóa phong phú mà không gắn với kinh tế thì khó bền vững.
Nghị quyết số 80-NQ/TW giúp tháo gỡ mối quan hệ này bằng cách coi văn hóa là một động lực tăng trưởng thực sự. Đặc biệt, khi phát triển các ngành công nghiệp văn hóa như du lịch, thiết kế, điện ảnh, biểu diễn, nội dung số... chúng ta sẽ mở ra một không gian phát triển hoàn toàn mới. Tôi nghĩ đây chính là “cú hích” về tư duy, tạo nền tảng cho những bước bứt phá sau này.
- Nghị quyết số 80-NQ/TW đề ra nhiều mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể để phát triển công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia. Bà đánh giá thế nào về khả năng phát triển công nghiệp văn hóa của nước ta?
- Công nghiệp văn hóa là cầu nối giữa sáng tạo nghệ thuật và thị trường. Khi sản phẩm văn hóa được tổ chức theo chuỗi giá trị khép kín từ sáng tác, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng, sẽ tạo ra giá trị kinh tế lớn và bền vững.
Việt Nam sở hữu kho tàng di sản phong phú, từ lễ hội, phong tục, ẩm thực đến các loại hình sân khấu truyền thống như chèo, tuồng, cải lương... Mỗi vùng miền là một không gian văn hóa đặc sắc - đó chính là nguồn tài nguyên quý. Nếu được tổ chức bài bản, gắn kết với du lịch, công nghệ và truyền thông, di sản hoàn toàn có thể bước vào đời sống đương đại, trở thành sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, nội dung số… đều có tiềm năng đóng góp đáng kể cho GDP. Vấn đề đặt ra là cần có chương trình hành động cụ thể cho từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị để khai thác hiệu quả.
Quan trọng hơn cả là phải kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát huy: Giữ gìn giá trị cốt lõi, tinh hoa dân tộc, đồng thời ứng dụng công nghệ và đổi mới phương thức tiếp cận để tạo ra sản phẩm phù hợp với đời sống hiện đại. Khi làm được điều đó, công nghiệp văn hóa sẽ trở thành một ngành kinh tế xanh, sạch và bền vững.
- Giới văn nghệ sĩ và người dân kỳ vọng điều gì từ sự chuyển biến tư duy “đầu tư” cho văn hóa, thưa bà?
- Kỳ vọng lớn nhất là sự thay đổi thực chất. Khi nói đầu tư, chúng ta phải đầu tư cho con người, cho thiết chế, cho công nghệ và cho sáng tạo. Văn nghệ sĩ mong có môi trường làm nghề ổn định, có cơ chế đặt hàng, có điều kiện tiếp cận công nghệ mới. Người dân mong được thụ hưởng nghệ thuật chất lượng cao ngay tại địa phương mình.
Điều đáng mừng là Nghị quyết số 80-NQ/TW còn xác lập Ngày Văn hóa Việt Nam là ngày 24-11 hằng năm. Đây là ngày của toàn dân, để nhân dân được nâng cao khả năng thụ hưởng văn hóa. Qua đây, đội ngũ văn nghệ sĩ được kích thích, động viên sáng tạo. Toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hóa, văn minh.

Chương trình cầu truyền hình "Hai tay xây dựng sơn hà" kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (28/1/1941 - 28/1/2026). Ảnh: Yên Nga
- Từ thực tiễn sân khấu và hoạt động văn học, nghệ thuật, theo bà, những trọng điểm đầu tư văn hóa thời gian tới là gì?
- Theo tôi, trước hết phải củng cố hệ thống thiết chế văn hóa. Nếu thiếu nhà hát, rạp chiếu phim, không gian trưng bày, triển lãm, bảo tàng, thư viện..., thì dù có tác phẩm hay cũng khó đến được với công chúng. Mỗi tỉnh, thành phố cần có thiết chế dành cho nghệ thuật đỉnh cao để người dân được tiếp cận, nâng cao trình độ thưởng thức; mỗi xã, phường cũng cần không gian văn hóa phù hợp, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của cộng đồng. Khi mạng lưới này được đầu tư đồng bộ, khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền sẽ từng bước thu hẹp, hướng tới sự phát triển hài hòa và hội nhập.
Tiếp đó là yếu tố con người. Cần chú trọng đào tạo đội ngũ nghệ sĩ trẻ, nhà quản lý văn hóa và lực lượng lý luận, phê bình. Văn hóa muốn phát triển bền vững phải được xây dựng trên nền tảng tri thức và nhân lực chất lượng cao.
Một yếu tố không thể thiếu là công nghệ số. Trong thời đại số, văn hóa cần tận dụng các nền tảng mới để lan tỏa giá trị và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, mọi đổi mới đều phải đặt trên nguyên tắc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc.
- Từng là người quản lý một đơn vị nghệ thuật tại Hà Nội, bà nhìn nhận tác động của Nghị quyết số 80-NQ/TW đối với phát triển văn hóa Thủ đô như thế nào?
- Hà Nội luôn là trung tâm văn hóa của cả nước, nơi kết tinh truyền thống nghìn năm và hội tụ nguồn lực sáng tạo dồi dào của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, người làm văn hóa. Vì thế, tôi cho rằng, Nghị quyết số 80-NQ/TW mở ra cơ hội rất lớn để Thủ đô bước vào giai đoạn phát triển mới, với tầm nhìn bài bản và cơ chế đủ mạnh để văn hóa thực sự trở thành động lực tăng trưởng.
Hà Nội có lợi thế rõ rệt về di sản, hệ thống trường đào tạo nghệ thuật, đội ngũ nhân lực chất lượng cao và lượng công chúng đông đảo, trong đó có khách du lịch trong nước và quốc tế. Nếu biết triển khai hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW để quy hoạch các không gian sáng tạo, đầu tư rạp hát và trung tâm biểu diễn hiện đại, tổ chức những lễ hội văn hóa quy mô lớn, đồng thời kết nối truyền thống với công nghệ số, tôi tin Thủ đô hoàn toàn có thể tạo nên những bước đột phá mang tính kỳ tích trong phát triển công nghiệp văn hóa.
- Trân trọng cảm ơn NSND Trịnh Thúy Mùi!







