Sản xuất công nghiệp tăng hai con số, kỳ vọng nối dài đà khởi sắc
Sản xuất công nghiệp tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế khi IIP 9 tháng năm 2026 tăng 12,3%, với 15 địa phương ghi nhận mức tăng trên 13%. Trong quý IV, dù còn đối mặt áp lực về đơn hàng, nguyên vật liệu và chi phí logistics, phần lớn doanh nghiệp vẫn kỳ vọng duy trì ổn định hoặc cải thiện hoạt động sản xuất, tạo động lực cho tăng trưởng những tháng cuối năm.
Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số
Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hai con số. Cụ thể, IIP trong 9 tháng của năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là mức tăng cao nhất của chín tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua.
Đặc biệt, IIP 9 tháng tăng ở 34 địa phương trên cả nước, trong đó 15 địa phương tăng trên 13%.
Cá biệt, một số địa phương có IIP chín tháng tăng rất cao, như: Hà Tĩnh tăng 40,2%; Ninh Bình tăng 25%; Thái Nguyên tăng 23,2%; Phú Thọ và Nghệ An cùng tăng 21,5%; Bắc Ninh tăng 20,2%; Quảng Ninh tăng 18,6% …
Theo nhận định của S&I Ratings, hoạt động sản xuất trong nước đang mở rộng trên diện rộng thay vì chỉ tập trung ở một số ngành xuất khẩu chủ lực.
Theo đơn vị này, động lực tăng trưởng của khu vực sản xuất trong giai đoạn này đến từ hai yếu tố chính. Thứ nhất, xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và thiết bị công nghệ tiếp tục tăng mạnh nhờ làn sóng đầu tư AI, trung tâm dữ liệu và bán dẫn trên toàn cầu.
Thứ hai, nhu cầu vật liệu xây dựng và điện năng gia tăng cùng tiến độ triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn trong nước đã hỗ trợ cho nhóm ngành thép, xi măng và năng lượng.

Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số. Ảnh: HD
Tuy nhiên, số liệu của Cục Thống kê lưu ý, hiện 18 địa phương có IIP tăng dưới 13%. Trong đó, một số trung tâm công nghiệp lớn có mức tăng thấp hơn mục tiêu chung như: TP.HCM chỉ tăng 10,9% và Hà Nội chỉ tăng 9%.
Ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cho biết: IIP cả nước tăng 12,3% là mức tăng 9 tháng cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Điều đáng nói, mức tăng này tăng mạnh dần lên, quý sau cao hơn quý trước.
Giải thích cho hiện tượng các địa phương có tốc độ tăng trưởng khác nhau, ông Phạm Văn Quân cho hay, sự phân hóa giữa các địa phương chủ yếu do khác biệt về cơ cấu ngành và năng lực sản xuất mới.
Các địa phương tăng cao phần lớn là nơi có dự án lớn mới đi vào vận hành hoặc nâng công suất, đặc biệt là các dự án trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Trong khi đó, tốc độ tăng IIP tại một số địa phương thấp hơn do phụ thuộc vào đặc thù ngành và điều kiện sản xuất. Cụ thể, những địa phương có tỷ trọng lớn ngành khai khoáng, thủy điện thường chịu tác động từ trữ lượng tài nguyên, điều kiện thủy văn và hoạt động cấp phép khai thác.
Một số địa phương tập trung các ngành xuất khẩu thâm dụng lao động cũng chịu sức ép từ các rào cản thương mại mới và chi phí logistics quốc tế tăng cao.
Ngoài ra, tại các trung tâm công nghiệp lớn, quy mô sản xuất vốn đã cao và quá trình chuyển dịch cơ cấu đang diễn ra khiến tốc độ tăng trưởng khó tạo đột phá trong ngắn hạn.
Ở một số địa phương còn gặp khó khăn trong việc bố trí quỹ đất, mặt bằng và thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ sản xuất kinh doanh, dẫn đến việc đưa các dự án mới hoặc mở rộng tăng công suất vào vận hành còn chậm.
Theo ông Quân, trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương đã tổ chức nhiều đoàn làm việc với các địa phương để thúc đẩy phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại trên địa bàn các địa phương đó.
“Kết quả từ các hoạt động này đã góp phần không nhỏ trong việc định hướng tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho phát triển công nghiệp nói riêng cũng như ngành Công Thương nói chung tại nhiều địa phương trọng điểm”, ông nói.
Trong thời gian tới, cùng với các chương trình làm việc với địa phương của Bộ Công Thương, Cục Công nghiệp sẽ tiếp tục đề xuất các giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp trong quý IV và các tháng còn lại của năm 2026.
Trong đó, tập trung vào việc hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương trong việc đẩy mạnh quy hoạch, xây dựng, bàn giao hạ tầng khu, cụm công nghiệp để bảo đảm quỹ đất và mặt bằng phục vụ sản xuất; thúc đẩy phát triển một số ngành có dư địa tăng trưởng tốt trong dịp cuối năm.
Đồng thời, kích cầu tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp trong nước và đặc biệt là đưa nhanh các năng lực sản xuất mới vào vận hành tại các địa phương, tập trung vào các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo quan trọng có khả năng đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế trên địa bàn.
Kỳ vọng tăng trưởng giữa sức ép chi phí và đơn hàng
Theo nhận định của Bộ Công Thương, bước sang quý IV/2026, các ngành công nghiệp của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức.
Ở khu vực bên ngoài, chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài, biến động tỷ giá cùng căng thẳng địa chính trị đẩy giá năng lượng và chi phí logistics lên cao, trực tiếp làm gia tăng chi phí sản xuất, áp lực lạm phát và suy giảm sức mua tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm.
Cùng với đó là gia tăng các rào cản kỹ thuật, thuế quan, tiêu chuẩn xanh và nguy cơ biến động từ các thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc.

Bước sang quý IV/2026, các ngành công nghiệp của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức. Ảnh: Moit
Những thách thức này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chủ động theo dõi, linh hoạt thích ứng và tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm trong 3 tháng cuối năm để hoàn thành cao nhất các mục tiêu.
Theo đó, Bộ chủ trương giải quyết dứt điểm các điểm nghẽn về đơn hàng, nguyên vật liệu; hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo; đẩy nhanh tiến độ đưa các dự án công nghiệp lớn, có khả năng tạo ngay sản lượng mới vào vận hành trong năm.
Cùng với đó, tiếp tục đảm bảo an ninh năng lượng, lo đủ điện, xăng dầu cho nền kinh tế trong mọi tình huống. Đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường, khai thác các FTA hiện hành, ký kết FTA mới đã hoàn tất đàm phán như FTA Việt Nam - EFTA.
Bộ Công thương tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu chính ngạch, mở rộng các thỏa thuận, nghị định thư về kiểm dịch nông sản; tăng cường đầu tư hạ tầng logistics lạnh và chuẩn hóa vùng trồng, cơ sở đóng gói đáp ứng quy định của từng thị trường đối tác. Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và minh bạch chuỗi cung ứng.
Trong khi đó, kết quả từ cuộc điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh hằng quý do Cục Thống kê thực hiện, tinh thần lạc quan trong quý IV/2026 tiếp tục lan tỏa rõ nét.
Theo đó, có tới 83,9% doanh nghiệp dự báo hoạt động sản xuất kinh doanh quý IV/2026 so với quý III/2026 sẽ tốt hơn và giữ ổn định, chỉ có 16,1% doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.
Kỳ vọng tích cực ở cả khâu đơn hàng, sản lượng và lao động: Có 85,6% doanh nghiệp dự báo đơn đặt hàng mới quý IV sẽ tăng và giữ nguyên; 85,0% doanh nghiệp dự báo đơn hàng xuất khẩu tăng và giữ nguyên.
Về khối lượng sản xuất, 85,2% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên. Về sử dụng lao động, 90,2% doanh nghiệp dự kiến lao động tăng và giữ nguyên. Công suất sử dụng máy móc thiết bị bình quân quý III đã đạt 76,1%, tạo bệ phóng tốt cho việc gia tăng sản lượng cuối năm.








