EVN: Giá điện giảm 2%, CPI dự kiến giảm 0,08 điểm phần trăm
Theo lãnh đạo EVN, việc điều chỉnh giảm giá điện 2% kể từ ngày 1.11 sẽ làm giảm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) khoảng 0,08 điểm phần trăm.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam vừa có thông báo chính thức giảm 2% giá điện từ 1.11.2026. Ảnh: Hải Nguyễn
Giải pháp hỗ trợ bảo đảm an sinh xã hội
Từ ngày 1.11, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) chính thức áp dụng giá bán lẻ điện bình quân mới ở mức 2.159,9037 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng). Mức giá mới này giảm 2% (khoảng 44 đồng) so với giá điện bán lẻ bình quân hiện hành.
Ông Nguyễn Đình Phước - Phó Tổng Giám đốc EVN cho biết, việc điều chỉnh giảm giá điện lần này thể hiện sự chung tay của tập đoàn trong thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời hỗ trợ bảo đảm an sinh xã hội cho người dân và doanh nghiệp.
Lãnh đạo EVN dẫn số liệu đánh giá của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, việc điều chỉnh giảm giá bán lẻ điện 2% kể từ tháng 11 sẽ làm giảm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) khoảng 0,08 điểm phần trăm.
Ông Phước khẳng định, các chính sách hỗ trợ tiền điện đối với hộ nghèo và hộ chính sách xã hội vẫn được duy trì.
Theo Quyết định số 14/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện, các hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện hằng tháng tương đương lượng điện sử dụng 30 kWh/hộ/tháng, tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành.
Đối với hộ chính sách xã hội có lượng điện sử dụng dưới 50 kWh/tháng, mức hỗ trợ hằng tháng cũng tương đương tiền điện của 30 kWh, tính theo giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1.

Giá bán lẻ điện bình quân giảm 2% từ ngày 1.11. Ảnh: Anh Tuấn (chụp tháng 8.2026)
Giảm giá năng lượng, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong - Thành viên Hội đồng Tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết, những tháng cuối năm, nền kinh tế chịu một số sức ép về lạm phát. Đầu tiên là lạm phát tiền tệ, xuất phát từ việc nới lỏng chính sách tài chính, tiền tệ và tín dụng.
Thứ hai là lạm phát ngoại nhập, trong bối cảnh giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng tăng trở lại.
Thứ ba là lạm phát chi phí đẩy, do chi phí đầu vào gia tăng, đặc biệt là giá xăng dầu và năng lượng.
Thứ tư là lạm phát cầu kéo, xuất phát từ quá trình phục hồi kinh tế và sự cải thiện sức mua trên thị trường.
Cả bốn yếu tố tạo áp lực lên mặt bằng giá cả trong năm nay. Trong khi đó, chỉ sau 9 tháng, dư địa kiểm soát lạm phát trong phạm vi mục tiêu cả năm đã gần như được sử dụng hết.
Theo ông Nguyễn Minh Phong, trong bối cảnh này, việc Chính phủ chủ động, linh hoạt giảm một số sức ép về giá dịch vụ công, thuế và các chi phí đầu vào là giải pháp cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Trước hết, việc giảm thuế và chi phí đầu vào (giảm giá điện) sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực tài chính, tiết giảm chi phí sản xuất, kinh doanh. Thậm chí, một phần nguồn lực lẽ ra phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước có thể được giữ lại để bổ sung vốn cho doanh nghiệp.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh doanh nghiệp đang chịu sức ép lớn về chi phí vốn, lãi suất và khả năng tiếp cận tín dụng.
Việc giảm chi phí đầu vào còn góp phần hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời hạn chế áp lực gia tăng mặt bằng giá chung của xã hội.
Các giải pháp hỗ trợ còn tạo thêm động lực đầu tư, củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào sự đồng hành của Chính phủ.
Đối với người dân, việc giảm chi phí đầu vào của nền kinh tế có thể góp phần giảm áp lực giá cả hàng hóa, dịch vụ, qua đó giảm bớt gánh nặng chi tiêu và sức ép thanh khoản.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh Phong lưu ý, việc Nhà nước giảm thuế, phí và các chi phí đầu vào không đồng nghĩa với việc giá hàng hóa, dịch vụ trên thị trường sẽ tự động giảm tương ứng.
Lợi ích từ chính sách cũng không tự động chuyển đến người tiêu dùng nếu thiếu cơ chế phối hợp đồng bộ, bảo đảm quá trình truyền dẫn tác động giảm chi phí được thông suốt.
Đây là vấn đề các cơ quan chức năng và cộng đồng doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm trong quá trình triển khai chính sách.








