• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Áp dụng công nghệ - Nâng cao năng suất, tăng sức cạnh tranh của nông sản

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng.

Những năm gần đây, khoa học, công nghệ đã góp phần quan trọng vào nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Mặc dù khoa học, công nghệ tạo ra giá trị lớn cho nông nghiệp, nhưng tiềm năng ứng dụng chưa được khai thác hết.

Áp dụng công nghệ - Nâng cao năng suất, tăng sức cạnh tranh của nông sản. Ảnh minh họa: Báo Nông nghiệp và Môi trường

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Đặng Ngọc Điệp cho biết trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng ngành nông nghiệp đạt 4,02%, kim ngạch xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD. Về ứng dụng giống mới, công nghệ sinh học và quy trình canh tác tiên tiến giúp năng suất các giống lúa mới tăng khoảng 9,9%, sản lượng tăng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm, tạo giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng.

Những kết quả này có sự đóng góp của các tiến bộ về giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, tự động hóa và đổi mới phương thức tổ chức sản xuất.

Theo Bộ NN&MT, việc ứng dụng các giống lúa mới do Việt Nam chọn tạo giúp tăng sản lượng khoảng 2,4 triệu tấn mỗi năm, mang lại giá trị kinh tế gia tăng ước đạt 12.000 tỷ đồng. Đây là minh chứng rõ nét cho khả năng đóng góp trực tiếp của khoa học, công nghệ vào tăng trưởng nông nghiệp.

Trong lĩnh vực trồng trọt, các giống lúa do Việt Nam chọn tạo chiếm 5 trong 10 giống có diện tích gieo trồng lớn nhất cả nước và 8 trong 10 giống phổ biến nhất tại đồng bằng sông Cửu Long. Việc ứng dụng giống mới giúp năng suất tăng khoảng 9,9%, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.

Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản duy trì tốc độ tăng giá trị gia tăng khoảng 7,5-8% mỗi năm; tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu tăng từ khoảng 20% năm 2020 lên trên 30% năm 2025.

Tuy nhiên, không phải kết quả nghiên cứu nào cũng được chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Nhiều công nghệ chưa được ứng dụng rộng rãi, thiếu doanh nghiệp tiếp nhận, trong khi những hạn chế về tổ chức sản xuất, bảo quản, chế biến và thị trường tiếp tục làm giảm giá trị gia tăng của nông sản.

Để tháo gỡ, Bộ NN&MT đề xuất ưu tiên giống chất lượng cao, công nghệ sinh học, tự động hóa, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc; các nhiệm vụ khoa học cần gắn với sản phẩm cụ thể, khả năng thương mại hóa và hiệu quả kinh tế.

Đại diện các doanh nghiệp như Doveco, Dabaco, TH, Woodsland cùng các cơ sở nghiên cứu chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ, phát triển chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, chế biến.

Ông Đinh Cao Khuê, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch Doveco, cho biết kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 8,56 tỷ USD năm 2025. Năm 2026, ngành có thể đạt 9,5-10 tỷ USD và hướng tới mục tiêu 20 tỷ USD trong những năm tới nếu giải quyết tốt các điểm nghẽn về vùng nguyên liệu và công nghệ.

Ứng dụng khoa học, công nghệ đã giúp doanh nghiệp chủ động nguồn giống chanh leo thông qua hợp tác với viện nghiên cứu, trường đại học, giảm phụ thuộc nhập khẩu từ Đài Loan. Với cây dứa, năng suất tăng từ khoảng 50 tấn/ha ở giống Queen lên 70 tấn/ha ở giống Cayenne. Giống MD2 đang được phát triển với năng suất khoảng 100 tấn/ha, giá bán có thể gấp đôi giống truyền thống nhờ tỷ lệ xuất khẩu tươi cao.

Chia sẻ kết quả sau gần 3 năm triển khai Đề án 1 triệu ha, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) cho biết có khoảng 420.000 ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tuân thủ một phần hoặc toàn bộ quy trình do Bộ ban hành.

Qua các mô hình đã triển khai, thu nhập của bà con nông dân cũng ghi nhận tăng từ 1,5 - 9,3 triệu/ha (tùy theo điều kiện canh tác và mùa vụ). Đặc biệt, nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” đã tiếp cận được một số thị trường xuất khẩu quan trọng như Nhật Bản, EU, Ả Rập Xê-út.

Khu vực phía Nam có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất trọng điểm về lúa gạo, trái cây, tôm và cá tra; Đông Nam Bộ có thế mạnh về chăn nuôi công nghiệp, chế biến và logistics; Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ có tiềm năng lớn về cà phê, sầu riêng, lâm nghiệp và nuôi biển.

Tuy nhiên, mỗi vùng, mỗi ngành hàng có những đặc thù và điểm nghẽn riêng. Vì vậy, việc phát triển khoa học, công nghệ cần xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tập trung vào những khâu có khả năng tạo chuyển biến rõ nét về năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng.

Thực tế này cho thấy tăng trưởng nông nghiệp không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng diện tích, gia tăng sản lượng hoặc khai thác lợi thế tài nguyên. Trên cơ sở đó, giai đoạn 2026-2030, ngành nông nghiệp định hướng triển khai 5 nhóm chương trình liên kết trọng tâm về trồng trọt và chế biến sâu; chăn nuôi an toàn sinh học và kinh tế tuần hoàn; thủy sản công nghệ cao; lâm nghiệp bền vững; dữ liệu tài nguyên, thủy lợi thông minh và cảnh báo rủi ro khí hậu.

Điểm cốt lõi là các chương trình phải được xây dựng trên cơ sở lợi thế từng vùng, nhu cầu của doanh nghiệp và yêu cầu phát triển chuỗi giá trị. Mục tiêu xuyên suốt là đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào thực tiễn sản xuất, tạo chuyển biến rõ nét về năng suất, chất lượng, giảm chi phí, nâng cao giá trị nông sản và sức cạnh tranh, qua đó thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững cho nông nghiệp.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết